Mở đầu - Nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Thực trạng hành động phân tích của học sinh lớp 3. Chƣơng 3: Thử nghiệm nâng cao hành động phân tích cho học sinh lớp 3 qua môn Đạo đức và môn Toán. - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. 4 NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khoá luận Hoạt động học tập và hành động học tập là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài của mình, tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu. Vũ Thị Nho đã nhận xét: “Đến cuối giai đoạn thứ 2, học sinh nhỏ đã biết khái quát trên những cơ sở, những biểu trƣng đã tích luỹ đƣợc từ trƣớc thông qua sự phân tích tổng hợp bằng trí tuệ” [7, tr 79]. Trong công trình nghiên cứu về đặc điểm tƣ duy của học sinh cuối bậc Tiểu học, Bùi Văn Huệ đã kết luận: “Học sinh cuối bậc học này có thể phân tích đối tƣợng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với đối tƣợng đó.
Học sinh các lớp này có khả năng phân biệt nhữngbậc dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tƣợng dƣới dạng ngôn ngữ” [3, tr 101, 102]. Đánh giá vai trò của hành động phân tích trong học tập, ông khẳng định: “Hành động phân tích là hành động tiên quyết trong việc lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học của học sinh Tiểu học” [3, tr 103]. Nguyễn Kế Hào đã nhận xét: “Đến cuối bậc Tiểu học các em có thể phân tích đối tƣợng mà không cần tới những hành động trực tiếp với đối tƣợng, các em có khả năng phân tích những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tƣợng ngôn ngữ” [10, tr 2006]. Bùi Văn Huệ, Phạm Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức đã chỉ ra rằng: hành động phân tích phải do mỗi học sinh tự thực hiện, giáo viên chỉ là ngƣời hƣớng dẫn hay tổ chức.
“Học sinh phải hành động thực sự (chứ không phải chỉ quan sát hay nghe kể…) mà làm biến đổi đối tƣợng lĩnh hội. Nhờ đó phát 5 hiện đƣợc logic của đối tƣợng nghiên cứu, phát hiện ra mối quan hệ chung của hệ thống đối tƣợng cần khảo sát” [4, tr 218]. Đánh giá về vai trò của hành động phân tích, Lê Khanh đã khẳng định: “Hành động phân tích là phƣơng tiện quan trọng nhất đi sâu vào đối tƣợng, phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm cũng nhƣ cấu tạo logic của nó” [7, tr 87]. Điểm qua các công trình nghiên cứu, cung cấp cho chúng tôi cơ sở lí luận và thực tiễn về hành động phân tích của học sinh cuối bậc Tiểu học.
Tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm hành động phân tích của học sinh lớp 3 đã đƣợc hoàn thiện và giảm tải. Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hoạt động Hoạt động là quá trình thực thi và xác lập mối quan hệ giữa chủ thể và đối tƣợng trong đó diễn ra hai quá trình thống nhất với nhau: quá trình đối tƣợng hoá và quá trình chủ thể hoá.
“Quá trình đối tƣợng hoá là quá trình chủ thể chuyển tâm lí và năng lực của mình vào sản phẩm hoạt động hay quá trình xuất tâm, vận dụng. Quá trình chủ thể hoá là quá trình chuyển nội dung đối tƣợng vào bản thân mình để tạo ra sự phát triển tâm lí trong quá trình tiếp thu” [8, tr 96]. Nói cách khác hoạt động là mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể, là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời trong xã hội, trong môi trƣờng xung quanh. Hoạt động của con ngƣời bao gồm cả hành vi lẫn tâm lí, ý thức, công việc tay chân và công việc trong bộ não.
Phân tích hoạt động của con ngƣời, các nhà tâm lí học nhận thấy có 4 đặc điểm: Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tƣợng. Hoạt động bao giờ cũng nhằm vào đối tƣợng tạo ra sản phẩm (vật chất hoặc tinh thần). Đối tƣợng 6 có hai hình thức tồn tại đó là tồn tại bên ngoài chủ thể và tồn tại bên trong tâm lí chủ thể. Tƣơng ứng với hai hình thức của đối tƣợng là hai hình thức của hoạt động: Hình thức hoạt động bên ngoài: Ở hình thức này, chủ thể sử dụng các thao tác vật chất tác động vào đối tƣợng, khi đối tƣợng đang ở hình thức bên ngoài.
Hình thức hoạt động bên trong là hoạt động tâm lí khi đối tƣợng đã chuyển hẳn vào trong đầu. Hình thức hoạt động bên trong có nguồn gốc và cấu trúc giống hoạt động bên ngoài. Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, chủ thể là con ngƣời đang tiến hành hoạt động. Hoạt động bao giờ cũng có mục đích, mục đích là mô hình về sản phẩm mà chủ thể đạt đƣợc sau khi kết thúc hoạt động.
Hoạt động đƣợc thực hiện theo cơ chế gián tiếp, trong quá trình hoạt động con ngƣời phải sử dụng công cụ. Khái niệm hành động Hoạt động bao giờ cũng đƣợc tiến hành bằng các hành động cụ thể và là tổ hợp các hành động. Hành động đƣợc A.Lêônchiép định nghĩa là quá trình bị chi phối bởi các biểu tƣợng về kết quả phải đạt đƣợc, nghĩa là quá trình nhằm một đối tƣợng đƣợc ý thức cần phải chiếm lĩnh. Khái niệm mục đích quan hệ với hành động cũng giống khái niệm động cơ quan hệ với hoạt động.
Mục đích của hành động là đối tƣợng chủ thể cần chiếm lĩnh, nó chứa đựng nội dung tâm lĩ và kĩ thuật hình thành, vì vậy nó có khả năng tồn tại độc lập, tồn tại trong mối quan hệ với hành động, dẫn đến hành động có tính độc lập và tính xác định cao. Trong tình huống độc lập, hành động đƣợc thực hiện nhằm giải quyết hai câu hỏi: Đạt đƣợc cái gì và đạt đƣợc cái đó bằng cách nào, nhƣ thế nào? 7 Để thực hiện một hành động nào đó, ít nhất phải thoả mãn hai điều kiện: Một mặt về phía chủ thể cần ý thực đƣợc đối tƣợng cần chiếm lĩnh, mặt khác về phía khách quan hoạt động bị chi phối bởi 2 yếu tố là những hoàn cảnh vật chất bên ngoài (xã hội, tự nhiên) và logic kĩ thuật để hình thành đối tƣợng. Nhƣ vậy hành động phải thực hiện nhiệm vụ (nhiệm vụ là mục đích đề ra trong những hoàn cảnh nhất định). Muốn vậy là phải có phƣơng thức hành động là thao tác.
Thao tác là cơ cấu kĩ thuật của hành động, là phƣơng thức triển khai của hành động [6], thao tác không phải là đơn vị tâm lí độc lập, nó không có mục đích riêng mà chỉ là phƣơng tiện để thực hiện mục đích của hành động nào đó phù hợp với nó về logic: “Thao tác đƣợc sinh thành từ hành động, nó là kết quả của việc cải tổ hành động, do việc đƣa hành động này vào hành động kia do diễn ra “kĩ thuật hoá hành động”” [8, tr 594]. Khái niệm hoạt động học Dựa trên lí thuyết hoạt động, các nhà tâm lí học D.ĐaVƣđô đã tiến hành hàng loạt thực nghiệm dạy học, hoạt động học là một loại hoạt động đặc biệt của học sinh, đƣợc hiểu một cách có ý thức vào việc thực hiện mục đích của dạy học và giáo dục đã đƣợc xem nhƣ là mục đích của các nhân mình” [4, tr 188]. Hay nói cách khác hoạt động học là hoạt động của học sinh do hoạt động dạy tổ chức và điều khiển nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo các môn học. Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học.
Nhƣ vậy hoạt động học là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo biến đổi bản thân chủ thể hoạt động, hoạt động học đƣợc khắc họa bởi những đặc điểm sau: - Đối tƣợng của hoạt động học là tri thức khoa học, kĩ năng , kĩ xảo tƣơng ứng. 8 - Hoạt động học tập là hoạt động hƣớng vào phát triển tâm lí của chủ thể hoạt động này, chủ thể là mỗi học sinh đang tiến hành hoạt động học. Sản phẩm của hoạt động học tập tồn tại chính trong mỗi học sinh (phẩm chất, năng lực). Do đó hoạt động học tập đƣợc thực hiện theo cơ chế lĩnh hội (nhập tâm, tiếp thu, chuyển vào trong đầu).
- Hoạt động học tập không chỉ hƣớng vào tiếp thu tri thức của các môn học mà còn tiếp thu tri thức về hoạt động học (tiếp thu cách học). Học sinh tiếp thu tri thức về hoạt động học là tiếp thu động cơ học, nhiệm vụ học và các hành động học. Khái niệm hành động học Hành động học tập là bộ phận của hoạt động học tập đƣợc thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động học tập, tƣơng ứng với mục đích không thể chia nhỏ hơn đƣợc nữa. Nói cách khác, hành động là quá trình học sinh tác động trực tiếp lên đối tƣợng để tạo ra sản phẩm học tập, đạt đƣợc chỉ tiêu định trƣớc.
Mỗi hành động bao gồm một hệ thống các thao tác. Thao tác vốn là một hành động học đƣợc chủ thể dùng nó để thực hiện một hành động khác. Các thao tác của một hành động học tập phải thỏa mãn các điều kiện: tính chất tuyến tính (các thao tác đƣợc sắp xếp theo thời gian) tính chất hữu hạn (số lƣợng các thao tác không thừa không thiếu) tính chất xác định, tính chất hiệu quả. Xét hình thức tồn tại của khái niệm thì hành động học tập có 3 loại: thao tác vật chất, thao tác tinh thần, thao tác trí óc.
Việc chuyển hóa hành động học tập thành thao tác học cho học sinh phải đƣợc tiến hành trên 2 phƣơng diện: luyện tập và rút gọn hành động học, tiếp theo phải đƣa thao tác đó vào trong hành động khác. Hành động có ba hình thức (xét theo quá trình chuyển vào trong). Đối tƣợng của hoạt động học là tri thức khoa học, khái niệm khoa học. Một khái niệm khoa học (với tƣ cách là sản phẩm tâm lí) có ba hình thức tồn tại cơ bản: 9 Hình thức vật chất: ở đây khái niệm đƣợc khách quan hóa,trú ngụ trên các vật chất hay vật thay thế.
Hình thức “mã hóa”: trong trƣờng hợp này, logic của khái niệm chuyển vào trú ngụ ở một vật liệu khác (kí hiệu, lời nói). Hình thức tinh thần: cƣ ngụ trong tâm lí cá thể. Tƣơng ứng với ba hình thức tồn tại của khái niệm (sản phẩm giáo dục) là ba hình thức của hoạt động học.