Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản là ngành công nghiệp đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế nhưng cũng tạo ra áp lực nặng nề lên môi trường sinh thái do phát thải kim loại nặng độc hại. Tại khu vực mỏ vàng xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, hoạt động khai khoáng và tuyển quặng kéo dài nhiều năm đã làm phát sinh lượng lớn bùn thải, đất đá thải và nước thải chứa nhiều tạp chất kim loại, trực tiếp đổ ra hệ thống sông suối xung quanh. Trầm tích bề mặt đáy sông suối là nơi tích tụ cuối cùng của các ion kim loại, đồng thời đóng vai trò như một nguồn ô nhiễm thứ cấp có thể tái phóng thích vào nguồn nước khi điều kiện thủy văn biến đổi.

Nghiên cứu được tiến hành trên 6 mẫu trầm tích thu thập vào tháng 11 năm 2022 tại các điểm xung yếu dọc theo lưu vực suối Thần Sa, bao gồm khu vực mỏ Khau Âu, Bãi Mố và các hang khai thác cũ với độ sâu lấy mẫu từ 0 đến 20 cm. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là áp dụng quy trình chiết tuần tự Tessier kết hợp phương pháp phổ khối plasma cảm ứng (ICP-MS) để xác định tổng hàm lượng cũng như 5 dạng liên kết hóa sinh của chì (Pb) và kẽm (Zn).

Nghiên cứu đánh giá chính xác mức độ tích lũy và nguy cơ độc học sinh thái thông qua chỉ số tích lũy địa chất (Igeo) và mã đánh giá rủi ro môi trường (RAC). Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý tài nguyên và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt tại các vùng mỏ miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đánh giá tác động độc chất của kim loại nặng trong đất và trầm tích không thể chỉ dựa vào tổng nồng độ mà phải phân tích dạng tồn tại hóa học nhằm xác định tính linh động và khả dụng sinh học. Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên mô hình phân đoạn hóa học Tessier gồm 5 dạng liên kết:

  • Dạng trao đổi (F1): Hấp phụ yếu trên bề mặt sét và mùn hữu cơ, dễ dàng giải phóng vào nước khi nồng độ ion thay đổi.
  • Dạng liên kết cacbonat (F2): Nhạy cảm với môi trường axit, nhanh chóng tan ra khi pH giảm dưới 5.0.
  • Dạng liên kết oxit Fe-Mn (F3): Bị khử và giải phóng kim loại khi thế oxy hóa - khử trong tầng trầm tích hạ thấp.
  • Dạng liên kết hữu cơ và sunfua (F4): Giải phóng ion khi gặp môi trường oxy hóa mạnh.
  • Dạng cặn dư (F5): Nằm sâu trong mạng lưới tinh thể khoáng silicat, rất bền vững và khó hòa tan trong tự nhiên.

Mức độ tích lũy và rủi ro sinh thái được định lượng thông qua chỉ số Igeo theo phương pháp của Müller với giá trị nền địa hóa Bn lần lượt là 15 mg/kg đối với chì và 70 mg/kg đối với kẽm. Đi kèm với đó là chỉ số RAC được xác định bằng tỷ lệ phần trăm của hai phân đoạn linh động (F1 + F2) so với tổng hàm lượng, phân loại rủi ro từ không có rủi ro (RAC dưới 1%), rủi ro thấp (1% đến 10%), rủi ro trung bình (11% đến 30%) cho tới rủi ro cao (31% đến 50%).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đã thực hiện lấy 6 mẫu trầm tích đại diện tại các vị trí tiếp nhận nguồn thải trực tiếp và gián tiếp từ hoạt động đãi vàng ở xã Thần Sa. Mỗi mẫu thu thập với khối lượng khoảng 1000 gam, phơi khô tự nhiên, nghiền nhỏ và rây qua cỡ hạt 2 mm để đồng nhất hóa trước khi xử lý.

Quá trình phá mẫu tổng số sử dụng 1,0000 gam mẫu phản ứng với hệ dung dịch nước cường toan tỷ lệ 3 thể tích axit clohydric 37% và 1 thể tích axit nitric 65%, thực hiện trên thiết bị vi sóng Mars 6 ở công suất 1200 W và nhiệt độ giữ 170 °C trong 10 phút.

Quy trình chiết tuần tự Tessier cải tiến được thực hiện tuần tự qua 5 bước bằng các hóa chất tinh khiết phân tích gồm amoni axetat, hydroxylamin hydroclorua và axit nitric để tách lọc các pha F1, F2, F3, F4 và F5.

Toàn bộ dịch chiết được định lượng trên hệ thống phổ khối plasma cảm ứng Perkin Elmer Nexion 2000 ở chế độ va chạm khí Heli. Phương pháp ICP-MS được lựa chọn nhờ khả năng phân tích đa nguyên tố với giới hạn phát hiện siêu vết, đạt LOD là 0,01370 ppb cho chì và 0,00151 ppb cho kẽm. Độ tin cậy của quy trình phân tích được chứng minh thông qua mẫu chuẩn trầm tích quốc tế MESS-4, đạt hiệu suất thu hồi 103,22% đối với kẽm và 109,27% đối với chì, nằm hoàn hảo trong khoảng cho phép từ 80% đến 110%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả định lượng cho thấy tổng hàm lượng chì trong 6 mẫu trầm tích dao động từ 29,16 mg/kg đến 89,19 mg/kg. Mẫu L4 tại cổng khu vực khai thác vàng có nồng độ chì cao nhất đạt 89,19 mg/kg, trong khi mẫu L6 có nồng độ thấp nhất là 29,16 mg/kg. Đối với kẽm, tổng hàm lượng dao động từ 38,94 mg/kg đến 72,59 mg/kg, với giá trị cao nhất ghi nhận tại mẫu L3 đạt 72,59 mg/kg và thấp nhất tại mẫu L4 đạt 38,94 mg/kg. So sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích nước ngọt, toàn bộ 6 mẫu phân tích đều có nồng độ tổng số nằm dưới ngưỡng giới hạn cho phép (91,3 mg/kg đối với chì và 315 mg/kg đối với kẽm).

Về dạng liên kết hóa học, cả chì và kẽm đều chiếm tỷ trọng áp đảo ở dạng cặn dư F5. Cụ thể, phân đoạn F5 của chì chiếm từ 26,77% đến 84,85% tổng lượng chì, trong đó mẫu L4 đạt tỷ lệ cặn dư cao nhất lên tới 84,85%. Tương tự, phân đoạn F5 của kẽm chiếm từ 33,74% đến 74,91%, tập trung cao nhất ở mẫu L2 với 74,91%. Phân đoạn liên kết với oxit sắt - mangan (F3) đứng thứ hai, chiếm từ 9,32% đến 40,15% đối với chì và từ 17,97% đến 32,63% đối với kẽm.

Đánh giá chỉ số rủi ro sinh thái ghi nhận sự phân hóa rõ rệt: Chỉ số Igeo của kẽm ở tất cả các vị trí đều nhỏ hơn 0, xếp vào nhóm không ô nhiễm. Đối với chì, 5 trên 6 vị trí có Igeo dưới 1, riêng vị trí L4 có giá trị Igeo nằm trong khoảng 1 đến 2, tương đương mức ô nhiễm vừa. Tuy nhiên, khi xét chỉ số RAC, vị trí L1 lại biểu hiện rủi ro cao với RAC của chì đạt 42,02% do tổng hai dạng linh động F1 và F2 chiếm tới 42,02%. Đối với kẽm, vị trí L6 có chỉ số RAC cao nhất đạt 23,52%, thuộc mức rủi ro trung bình do dạng liên kết cacbonat F2 chiếm tới 21,47%.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố nồng độ kim loại phản ánh trực tiếp nguồn phát thải từ các mỏ vàng đang hoạt động và tàn dư của các hang khai thác cũ. Dữ liệu thực nghiệm có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột chồng tỷ lệ phần trăm phân bố 5 phân đoạn hóa học và bảng đối chiếu đa biến giữa các trạm quan trắc. Biểu đồ chỉ ra rằng tại vị trí L4, mặc dù tổng nồng độ chì tiệm cận ngưỡng quy chuẩn đạt 89,19 mg/kg nhưng dạng cặn dư F5 chiếm tới 84,85%, dẫn đến chỉ số rủi ro RAC chỉ ở mức thấp 3,14%. Hiện tượng này giải thích do chất thải quặng mới thải ra chủ yếu tồn tại ở dạng khoáng vật nguyên sinh chưa bị phong hóa sâu.

Ngược lại, ở vị trí L1 thuộc khe suối nhỏ thượng nguồn, dù tổng hàm lượng chì chỉ ở mức trung bình 33,84 mg/kg, nhưng dạng trao đổi F1 chiếm 15,74% và dạng cacbonat F2 chiếm 26,28%. Sự chiếm ưu thế của hai dạng linh động này khiến giá trị RAC tăng vọt lên 42,02%, tạo ra nguy cơ giải phóng chì hòa tan vào nước khi dòng chảy có sự dao động về độ pH và hàm lượng ion.

Đối với kẽm, tỷ lệ cặn dư F5 cao ở hầu hết các điểm (trên 55% tại các mẫu L2, L3, L4, L5) chứng minh kẽm phần lớn gắn chặt trong cấu trúc silicat tự nhiên, ít bị hòa tan trong điều kiện bình thường. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trầm tích tại sông Cầu và hồ Trị An, khẳng định tính quy luật của sự phân bố kim loại nặng tại các thủy vực nội địa Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát ô nhiễm và ngăn ngừa rủi ro phát tán kim loại nặng ra lưu vực sông suối, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý được đề xuất triển khai cụ thể:

  1. Thiết lập hệ thống lắng đọng và lọc tuần hoàn khép kín: Doanh nghiệp khai thác mỏ vàng tại khu vực Bãi Mố cần xây dựng hệ thống hồ lắng nhiều bậc kết hợp xử lý keo tụ bùn thải, đảm bảo 100% nước thải tuyển quặng đạt quy chuẩn xả thải QCVN 40:2011/BTNMT, giảm thiểu trên 80% lượng hạt mịn chứa kim loại nặng phát tán vào suối trước quý 4 năm 2024.
  2. Thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng trầm tích định kỳ: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cần triển khai chương trình giám sát chất lượng bùn đáy và nước mặt 3 tháng một lần tại 6 điểm trọng yếu dọc lưu vực Thần Sa, tích hợp phân tích dạng hóa học định kỳ 6 tháng một lần từ đầu năm 2024 đến năm 2026 nhằm phát hiện sớm hiện tượng tái hòa tan kim loại.
  3. Ứng dụng công nghệ xử lý sinh học và cố định hóa sinh tại chỗ: Phòng Nông nghiệp và Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học Công nghệ cần phối hợp thí điểm trồng các loài thực vật thủy sinh bản địa có khả năng hấp phụ kim loại (như sậy, bèo tây) kết hợp bón vôi nông nghiệp để nâng pH đáy suối tại các điểm có chỉ số RAC cao như L1 và L6, mục tiêu đưa giá trị RAC về dưới mức 10% trong vòng 18 tháng.
  4. Tăng cường thanh tra và phục hồi môi trường sau khai thác: Ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai và Ủy ban nhân dân xã Thần Sa cần giám sát chặt chẽ việc hoàn nguyên môi trường, cưỡng chế đóng cửa và lấp kín hoàn toàn các hang hầm khai thác trái phép tại khu vực Khau Âu và Thượng Kim, hoàn thành kiểm tra hiện trạng 100% các cửa lò trước tháng 12 năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa phân tích, Khoa học Môi trường: Cung cấp quy trình thực nghiệm chuẩn mực về phương pháp chiết 5 bước Tessier cải tiến và kỹ thuật xử lý mẫu vi sóng phục vụ đo quang phổ ICP-MS với độ chính xác cao.
  2. Cán bộ quản lý tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên: Sử dụng làm tài liệu đối chiếu thực tế để xây dựng phương án kiểm soát xả thải và quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường lưu vực sông suối vùng khai khoáng.
  3. Kỹ sư môi trường và ban quản lý các doanh nghiệp khai thác khoáng sản: Cung cấp phương pháp luận để đánh giá rủi ro sinh thái thực tế từ bùn thải quặng, hỗ trợ thiết kế hệ thống xử lý nước thải tuyển khoáng tối ưu.
  4. Tổ chức nghiên cứu sinh thái và cộng đồng cư dân địa phương: Giúp nắm bắt hiện trạng chất lượng môi trường bùn đáy, nâng cao nhận thức bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp ven suối.

Câu hỏi thường gặp

Tổng hàm lượng chì và kẽm trong trầm tích Thần Sa có vượt quy chuẩn quốc gia không?

Kết quả phân tích cho thấy nồng độ tổng của chì dao động 29,16 đến 89,19 mg/kg và kẽm dao động 38,94 đến 72,59 mg/kg. Toàn bộ 6 vị trí khảo sát đều nằm dưới giới hạn cho phép của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích nước ngọt là 91,3 mg/kg đối với chì và 315 mg/kg đối với kẽm.

Vì sao tổng hàm lượng kim loại dưới ngưỡng nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ sinh thái?

Tổng nồng độ chỉ phản ánh lượng kim loại hiện hữu, không thể hiện mức độ độc hại thực tế. Tại điểm L1, tổng nồng độ chì chỉ 33,84 mg/kg nhưng dạng trao đổi và cacbonat chiếm tới 42,02%, tạo ra chỉ số RAC ở mức rủi ro cao, rất dễ hòa tan vào nước khi môi trường bị axit hóa.

Thiết bị ICP-MS mang lại ưu thế gì trong phân tích kim loại nặng trong trầm tích?

Thiết bị ICP-MS Nexion 2000 cho phép xác định đồng thời nhiều nguyên tố ở dải nồng độ siêu vết với độ nhạy vượt trội. Phương pháp đạt giới hạn phát hiện cực thấp (0,01370 ppb cho chì và 0,00151 ppb cho kẽm) cùng độ thu hồi mẫu chuẩn MESS-4 đạt từ 103,22% đến 109,27%.

Tại sao mẫu L4 có hàm lượng chì cao nhất nhưng chỉ số rủi ro RAC lại thấp nhất?

Mẫu L4 tại khu vực tuyển quặng có nồng độ chì cao nhất đạt 89,19 mg/kg, tuy nhiên dạng cặn dư F5 rất bền vững chiếm tới 84,85%. Do đó, tổng hai dạng linh động F1 và F2 chỉ chiếm 3,14%, khiến chỉ số rủi ro sinh thái RAC thuộc phân nhóm rủi ro thấp.

Người dân quanh khu vực khai thác vàng Thần Sa cần lưu ý gì để phòng tránh phơi nhiễm?

Cư dân không nên sử dụng trực tiếp nước suối đục ngầu bùn thải cho sinh hoạt ăn uống. Khi canh tác nông nghiệp ven suối, cần chuyển đổi sang các loại cây trồng ít hấp phụ kim loại ở rễ và tăng cường sử dụng nước mưa hoặc nước giếng khoan đã qua hệ thống lọc khử sắt, mangan và lắng cặn.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập thành công quy trình chiết tuần tự 5 phân đoạn Tessier kết hợp đo phổ khối ICP-MS với độ tin cậy phân tích cao (độ thu hồi từ 103,22% đến 109,27%).
  • Tổng hàm lượng chì (29,16 - 89,19 mg/kg) và kẽm (38,94 - 72,59 mg/kg) trong 6 mẫu trầm tích đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam.
  • Dạng cặn dư F5 chiếm tỷ trọng lớn nhất ở cả hai kim loại (Pb đạt tới 84,85%, Zn đạt tới 74,91%), khẳng định phần lớn kim loại tồn tại ở trạng thái trơ bền vững.
  • Đánh giá rủi ro sinh thái phát hiện điểm dị thường L1 có chỉ số RAC của chì đạt 42,02% (mức rủi ro cao) và điểm L6 có RAC của kẽm đạt 23,52% (mức rủi ro trung bình).
  • Công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu phân tích hóa học quan trọng, làm căn cứ khoa học cho lộ trình quan trắc và xử lý ô nhiễm giai đoạn 2024-2026.

Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng tất yếu của việc phân tích dạng liên kết hóa học thay vì chỉ dựa vào nồng độ tổng số khi đánh giá chất lượng môi trường trầm tích. Các cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát theo mùa để hoàn thiện mô hình lan truyền chất ô nhiễm trên toàn lưu vực sông Thần Sa.