Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị ngành chè Chương 3: Thực trạng chuỗi giá trị ngành chè tỉnh Nghệ An Chương 4: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị chè tỉnh Nghệ An 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành nông nghiệp Thuật ngữ “chuỗi giá trị” lần đầu tiên được công bố bởi Michael Porter (1985) trong tác phẩm “Competive advantage: Creating and sustaining superior performance”, theo đó, chuỗi giá trị được hiểu là một chuỗi các hoạt động có liên kết theo chiều dọc nhằm tạo lập và gia tăng giá trị cho khách hàng [61]. Theo quan điểm của Michael Porter, một doanh nghiệp có thể đạt được “lợi thế cạnh tranh” bằng cách tăng thêm giá trị trong tổ chức của họ. Giá trị này được tạo ra tại các khâu, các giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và tạo thành chuỗi giá trị [61].
Hiện nay, lý thuyết về CGT được phát triển bởi rất nhiều tác giả tại các quốc gia trên thế giới và được ứng dụng trong tất cả các ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp, một ngành sản xuất đầu tiên được nghiên cứu và phát triển khái niệm về chuỗi giá trị. Cho tới bây giờ vẫn tồn tại 3 nhóm quan điểm tiếp cận về chuỗi giá trị ngành nông nghiệp: phương pháp chuỗi (phương pháp Filière), Phương pháp lợi thế cạnh tranh và phương pháp giá trị toàn cầu. Tổng quan các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị ngành nông nghiệp theo quan điểm tiếp cận Filière Phương pháp Filière được ứng dụng trong phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển với vai trò chủ yếu là công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê, dừa…) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Trong bối cảnh này, phương pháp filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất 10 khẩu và khâu tiêu d ng cuối c ng.
Tuy nhiên, khái niệm chuỗi (Filière) không được xây dựng trên cơ sở một khung lý thuyết duy nhất mà đã được các tác giả dựa vào các lý thuyết khác nhau, cùng với những kinh nghiệm thực tế để đưa ra khái niệm và được ngành nông nghiệp các nước sử dụng để xây dựng một sơ đồ và phân tích dòng chuyển động của hàng hóa, đồng thời xác định những người tham gia vào các hoạt động của dòng chuyển động đó [44]. Theo phương pháp này, khái niệm chuỗi giá trị chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ về sản lượng sản xuất và dịch vụ, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi thông qua những người tham gia chuỗi [44]. Trong trường hợp này, khái niệm chuỗi giá trị được hiểu tương đối tương đồng với khái niệm chuỗi cung ứng. Mô hình CGT theo phương pháp Filière được minh họa trong Hình 1.
Nhà cung Nhà sản Nhà chế Nhà phân Người tiêu ứng đầu vào xuất biến phối dùng Hình 1.1: Khái niệm chuỗi theo phƣơng pháp Filière Trong những năm 1960, khái niệm CGT theo phương pháp Filière được hiểu đồng nghĩa với chuỗi cung ứng và được sử dụng để nghiên cứu hợp đồng canh tác và hội nhập dọc trong ngành nông nghiệp Pháp và ngay sau đó, được áp dụng cho ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đặc biệt là trong phát triển các ngành bông ở Tây và Trung Phi. Theo thời gian, phương pháp filière tập trung nhiều hơn vào cách thức các tổ chức của chính phủ ảnh hưởng đến các hệ thống sản xuất tại địa phương và cách thức các hiệp hội trung gian giúp cho việc gắn kết các tác nhân sản xuất sản phẩm chính và các tác nhân cung ứng các hàng hóa và dịch vụ phụ trợ. Tiếp cận CGT theo phương pháp chuỗi (Filière) đã được ứng dụng theo hai hướng cơ bản: (1) đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa và phân biệt các 11 khoản chi phí, thu nhập giữa kinh doanh nội địa và quốc tế nhằm phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP; (2) phân tích chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi để nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các chiến lược cá nhân và tập thể cũng như các hình thái qui định. Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, vấn đề chuyên môn hóa của nông dân, thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa) [62].
Ở Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về CGT theo phương pháp tiếp cận này nhằm đưa ra các giải pháp về môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý nhằm nâng cao giá trị chuỗi nông sản trên địa bàn một tỉnh. Tác giả Hồ Thanh Thủy (2013) đã tiếp CGT theo phương pháp Filière và phân tích vai trò của liên kết trong chuỗi giá trị, để từ đó đề xuất các biện pháp phát huy vai trò của các liên kết trong sản xuất nông sản. Tuy nhiên, một số giải pháp được tác giả đề xuất chưa được xây dựng trên cơ sở những căn cứ thực tế mà mới chỉ xuất phát từ vai trò của các liên kết trong CGT nông sản [25]. C ng phương pháp tiếp cận này, tác giả Võ Thị Thanh Lộc và Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011) cũng đã phân tích tác động của chính sách và chiến lược nâng cấp chuỗi ngành hàng lúa gạo và đề xuất một số giải pháp về nâng cấp chuỗi thị trường lúa gạo như chiến lược đầu tư, chiến lược chất lượng sản phẩm, chính sách hỗ trợ người nông dân trồng lúa, chính sách an ninh lương thực, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng… [16].
12 Tác giả Nguyễn Kế Tuấn (2003) khi nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế [29] đã đánh giá hiệu quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, rau quả, chè, lạc và đưa ra những giải pháp phát triển, trong đó nhấn mạnh vai trò của phát triển công nghiệp chế biến, coi đó là cách thức cơ bản nhằm nâng cao GTGT của hàng nông sản Việt Nam và khuyến nghị nên hạn chế tình trạng xuất khẩu sản phẩm thô, góp phần ổn định cho sản xuất nông nghiệp. Như vậy, có thể thấy, tiếp cận CGT theo phương pháp filière không nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối liên kết để đạt được giá trị và lợi thế để cạnh tranh trong thị trường toàn cầu mà các nghiên cứu chỉ hướng tới CGT của một ngành trong một khu vực nhất định và bao gồm các yếu tố như logicstic, cung ứng, tạo ra giá trị gia tăng, phân phối và liên kết thị trường …. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chỉ ra được cách thức phân tích và những định hướng trong tổ chức sản xuất kinh doanh của mỗi tác nhân trong chuỗi để có thể đề xuất những giải pháp nâng cao giá trị nội sinh của mỗi tác nhân trong chuỗi. Tổng quan các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị ngành nông nghiệp theo quan điểm tiếp cận lợi thế cạnh tranh Phương pháp chuỗi giá trị tiếp cận lợi thế cạnh tranh được phát triển bởi Micheal Porter, với quan điểm: chuỗi giá trị được coi như là yếu tố để tạo nên và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững của một tổ chức trong kinh doanh ở thế kỷ 21 [61].
Theo Michael Porter, chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể giúp mang lại cho sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại. Trong quá trình sản xuất, sản phẩm của một doanh nghiệp sẽ đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động đó, doanh 13 nghiệp sẽ thu được một số giá trị nhất định. Phân tích chuỗi các hoạt động này sẽ giúp các doanh nghiệp có thể tìm ra các lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Bởi, một doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hay một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc tính mà khách hàng mong muốn [61].
Nếu hoạt động của một doanh nghiệp được coi là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì sẽ khó có thể hoặc không thể tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là gì. Nhưng nếu hoạt động của một doanh nghiệp được phân tách thành một loạt các hoạt động chính và phụ trợ thì điều này hoàn tòa có thể thực hiện được. Theo cách tiếp cận này, cần phân biệt rõ giữa các hoạt động chính, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm. Như vậy, quan điểm chuỗi giá trị của Michael Porter được tiếp cận theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm chuỗi các hoạt động trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc một tổ chức với ý nghĩa giúp cho một doanh nghiệp phân tích và đưa ra quyết định chiến lược liên quan đến việc định vị doanh nghiệp trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh khác theo hai khía cạnh: (1) Một doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí); (2) làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt).
Ngoài ra, khi phân tích chuỗi giá trị theo các giai đoạn của chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp có thể tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Mô hình chuỗi giá trị theo quan điểm của Michael Porter được mô tả trong Hình 1.