Chương 1ð. Bình luận các quy định về giải quyết tranh chấp. định cuối cùng. Thực tế cho thấy, các tranh chấp về đất đai khá phức tạp, đặc biệt là với các tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận.
Do đó, việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan hành chính còn nhiều bất cập do khối lượng công việc lớn, trình độ pháp luật của một số cán bộ thực hiện việc giải quyết tranh chấp còn hạn chế. Đó chính là một trong những nguyên nhân: dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài về đất đai trong nhiều năm qua. Những hạn chế trên đã được khắc phục bằng các quy định tại Luật Đất đai 2013. Tại khoản 1 Điều 203 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
Những loại giấy tờ được quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 điều 50 Luat Dat đai 2008 vẫn được giữ nguyên trong quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai 2013 và bổ sung thêm một số trường hợp sau: - Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 thang 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ. - Giấy tờ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành; - Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật bao gồm: cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tổn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dan tộc; cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ đất được giao, được sử dụng kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác. Với điều 277 Bình luận chế định quản lý nhà nước về đất đai. kiện những loại đất nói trên không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng dân cư và đất không có tranh chấp.
Như vậy, việc phân định thẩm quyển giải quyết tranh chấp về đất đai không chỉ đơn thuần căn cứ vào hai yếu tố là: tính pháp lý của việc sử dụng đất, trong đó, nếu đương sự có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; nếu đương sự không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và tình trạng có hay không có tranh chấp về tài sản gắn lién với đất. Nếu tài san gắn liền với đất tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như quy định tại Luật Đất đai năm 2003 trước đây - mà việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp còn được quyết định bởi sự lựa chọn của các bên tranh chấp. Do đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án cũng đã được xác định đối với trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất và cho mở rộng cả những trường hợp thuộc đối tượng sẽ được Nhà nước ưu tiên cấp Giấy chứng nhận như các quy định nói trên. Tại khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2003 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình .thức giải quyết tranh chấp đất đai là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, để hạn chế những phiền toái không đáng có, đối với những tranh chấp đất đai mà đương sự không ˆ có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai thì cần phải yêu cầu đương sự cam kết là chỉ khởi kiện tại Tòa án nhân dân mà không đề nghị 278- Chương 15. Bình luận các quy định về giải quyết tranh chấp. Ủy ban nhân dan giải quyết tranh chấp đất đai để tránh trường hợp cùng một vụ việc cả hai cơ quan cùng thụ lý hồ sơ và giải quyết tranh chấp. Tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định: Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất dai được thực hiện như sau: Thứ nhất, tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tế tụng hành chính; Thứ hai, tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sơ tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
Do có sự khác nhau rất lớn giữa cơ chế, trình tự, thu tục giải quyêt tranh chấp đất đai theo thẩm quyền cua Tòa án và theo thẩm quyền của Ủy ban nhân dân nên trong thực tiễn khó tránh khỏi những bất cập không thể giải quyết như đã phân tích ở trên. Hơn nữa, khi giải quyết tranh chấp đất đai, có địa phương vẫn nhầm lẫn với giải quyết khiếu nại về đất đai và đã giải quyết theo trình tự giải quyết khiếu nại. Điều này đã hạn chế việc bảo vệ quyền lợi cho các đương sự và các chủ thể có liên quan. Nên chăng, khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án và Ủy ban nhân dân cần căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác 219 Bình luận chế định quản lý nhà nước về đất đai.
định thẩm quyển giải quyết tranh chấp và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Có thể thấy, so với Luật Đất đai 2003 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án theo Luật Đất đai 2013 được mở rộng hơn nhiều, với wu thế là, mọi bất đồng không dàn xếp được đều có thể được giải quyết tại cơ quan tài phán. Quy định này được kỳ vọng là sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong giải quyết tranh chấp đất đai, giảm thiểu áp lực đối với Ủy ban nhân dân, ổn định trật tự xã hội, góp phần quan trọng trong việc hạn chế tình trạng khiếu nại, khiếu kiện tố cáo kéo dài trong lĩnh vực quản lý đất đai. Như vậy, so với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 về cơ bản kế thừa được những giá trị truyền thống đã được xã hội ghi nhận, quy định và thực hiện trong các điều luật, đặc biệt là những quy định về điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai.
Đáng chú ý là sự đề cao vai trò của cộng đồng, của chính quyền cấp cơ sở trong hòa giải tranh chấp đất đai và coi đó là hoạt động không thể thiếu trước khi tiến hành các thủ tục tư phấp tại cơ quan tài phán. Thông qua đó mà nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, bảo đảm yếu tố dân chủ trong quá trình thực thi pháp luật của công chúng. Đối với các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, thẩm quyền của Tòa án nhân dân được mở rộng từ sự bảo đảm quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp cho các đương sự, loại trừ sự áp đặt từ chính hệ thống pháp luật. Quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được coi là sự thay đổi mang tính chất mở đường cho những tiến bộ tiếp theo trong những nỗ lực của Nhà nước nhằm tôn trọng và bảo vệ quyền sử dụng đất với ghi nhận là quyền tài sản của người sử dụng đất đã được chính thức quy định tại Hiến pháp năm 2013.
280 Chương 16 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở MỘT SÓ QUÓC GIA, VUNG LANH THO TRONG KHU VỰC VÀ TREN THE GIỚI - KINH NGHIEM THỰC TIEN CHO VIET NAM PGS. Nguyén Quang Tuyén 1, MO HINH VA NOI DUNG QUAN LY NHA NƯỚC VỀ ĐẤT DAI Ở MỘT số QUỐC GIA, VUNG LANH THO TRONG KHU VUC VA TREN THE GIỚI 1. Diéu tra vé ban chat dat dai 1. Thuy Dién Điều tra về sử dung đất ở Thuy Điển thuộc trách nhiệm của một số co quan chính phú khác nhau, được thực hiện trong các khoảng thời gian và mức độ chi tiết khác nhau.
Cùng với các mô tả về phương pháp thực hiện, kết quả thường được công bố trên trang thông tin của cơ quan thống kê tương ứng. Tuy nhiên, kết quả từ các nguồn nêu trên được cơ quan thống kê của Thụy Điển định kỳ biên soạn thành một phần của “Thống kê của Thụy Điển” chính thức. Báo cáo về “sử dụng đất tại Thụy Điển” cung cấp thông tin về việc sử dụng đất nói chung và được chia thành 8 phân loại sử dụng đất khác nhau, bao gồm đất nông nghiệp, đất rừng, đất xây dựng, đất sân Golf và sườn núi trượt tuyết, hầm mỏ, đầm lầy và vũng bùn, đồng cỏ tự nhiên và cây thạch lam, đất đá trần 281 Bình luận chế định quản lý nhà nước về đất đai. và các loại đất khác, và nước.
Đất xây dựng lại tiếp tục chia nhỏ thành các phân loại sau đây: đất ở lâu dài, đất nhà nghỉ dưỡng cuối tuần và các kỳ nghỉ lễ, đất công nghiệp, đất thương mại, đất cơ sở dịch vụ công cộng và thư giãn, giao thông vận tải, các cơ sở lắp đặt kỹ thuật, và các loại đất xây dựng khác. Ngoài ra, còn có loại đất khác được điều tra là những loại mà không thể đưa vào phân loại sử dụng nào được trình bày ở trên. Vi dụ, “các vị trf có phan đất xây dung cũng như đất rừng. Đất đai trong “Vườn quốc gia” thường là đất rừng, vũng bùn hoặc bãi đá trần.