phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương với 143 trang đánh máy A4, 37 hình (gồm biểu đồ, bản đồ, sơ đồ), 54 bảng số liệu, 12 công trình của NCS đã công bố liên quan đến luận án và danh mục 84 tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa Chương 2. Đặc điểm cảnh quan lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hóa 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ LÃNH THỔ LƢU VỰC SÔNG MÃ TỈNH THANH HÓA 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ trên thế giới Ra đời từ rất sớm, cảnh quan học đã và đang có nhiều đóng góp vào thực tiễn của nhân loại. Hiện nay nhu cầu nghiên cứu, làm sáng tỏ điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho việc sử dụng hợp lý lãnh thổ ngày càng lớn. Vì vậy nghiên cứu cảnh quan với những tiến bộ mới ngày càng góp phần quan trọng trong việc tối ưu hóa khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX được coi là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình thành khoa học cảnh quan, với nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau từ trường phái Nga và các nước Đông Âu đến trường phái nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu và Bắc Mĩ. Mỗi trường phái đều có những đặc trưng nghiên cứu riêng, với nhiều công trình khoa học có giá trị, nhưng tất cả đều hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và lãnh thổ. Đi đầu trong NCCQ là các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô cũ. Học thuyết về CQ được sáng lập bởi nhà bác học người Nga L.
Berg với tiền đề là học thuyết của nhà bác học V. Docutraiev về địa tổng thể và các đới tự nhiên. Berg đã công bố công trình phân vùng theo đới đầu tiên của toàn lãnh thổ Liên Xô cũ và đưa khái niệm CQ vào trong địa lí học, ông khẳng định chính CQ là đối tượng nghiên cứu của địa lí học. Berg công bố tác phẩm “Các đới cảnh quan địa lí Liên Xô”, đã góp phần hoàn thiện lí luận cảnh quan.
Cũng theo hướng nghiên cứu này năm 1963, G.Annhenxkaia và cộng sự đã trình bày rõ cách phân chia các đơn vị cảnh quan trong tuyển tập “Cảnh quan học”. Milkov đề cập đến các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các “Tổng thể cộng sinh” còn A. Armanđ gọi “Địa hệ” trong công trình “Khoa học về cảnh quan” (1975) [1], [2]. Sau những thành công to lớn của thế hệ các nhà cảnh quan học trước đó, các thế hệ sau vẫn tiếp tục gặt hái được những thành công trong nghiên cứu cảnh quan.
Trong đó tiêu biểu là A.Ixatsenko với hàng loạt các công trình nổi tiếng như:“Bản đồ cảnh quan Liên Xô, tỉ lệ 1:4.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan” (1961), “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên” (1969) [3]. Các công trình này đã góp phần bổ sung phương pháp NCCQ, cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng địa lí tự nhiên. Vào năm 1974, cùng với A. Shliapnikov công bố công trình “Về những nội dung của bản đồ cảnh quan địa lí”.
Đến năm 1976, ông cho xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” [4], đã phân tích những mối quan hệ tác động của con người lên CQ, làm cho các CQ nguyên thủy đã bị biến đổi sâu sắc thay vào đó các cảnh quan văn hóa - nhân tạo xuất hiện ngày càng phổ biến. Nhiệm vụ của cảnh quan học trong giai đoạn mới là phải 6 tìm cách tối ưu hóa trong khai thác tự nhiên. Khu vực Lêningrat trong công trình này được chọn làm điểm chìa khóa cho tiếp cận cảnh quan học ứng dụng trong định hướng tổ chức sử dụng hợp lý (SDHL) tài nguyên thiên nhiên (TNTN). Công trình thể hiện tầm nhìn và khả năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh quan học, khẳng định tiến bộ mới trong lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan, phục vụ thiết thực hơn cho khai thác tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội.Kuznetxov đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của “Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp”.
Các ĐKTN là cơ sở ban đầu để khoa học phân vùng nông nghiệp, nhấn mạnh vai trò của thổ nhưỡng và khí hậu, hai nhân tố quan trọng trong phân vùng nông nghiệp [5]. Thời gian sau có nhiều công trình về cảnh quan ứng dụng cũng được công bố như: “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch vùng” (E. Dorphman (1980)); “Phương pháp đánh giá cảnh quan sinh thái nhằm mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ” (M. Naranhicheva (1984) đã phân tích cảnh quan vùng Gomen là cơ sở cho tổ chức sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Xưxuev (2008) đã tổng luận những vấn đề cơ bản của cảnh quan tự nhiên - nhân sinh (cảnh quan nông - lâm nghiệp) trong xu hướng cảnh quan tự nhiên đã biến đổi sâu sắc, cần có những cách tiếp cận theo định hướng SDHL tài nguyên.Geraxki tiến hành tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phân vùng cảnh quan nông nghiệp.A Dizenko (1998) tiếp cận cảnh quan sinh thái để đánh giá thích nghi nông nghiệp. Các kết quả NCCQ ứng dụng ở Ucraina phải kể đến công trình về thiết kế lãnh thổ sản xuất vùng đồng bằng Nam Ukraina của tác giả Sichenko (1980). Ngoài ra, cũng có thể kể đến công trình của tập thể các tác giả thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga về nghiên cứu tổ chức lãnh thổ (TCLT) sản xuất vùng Viễn Đông của Liên Bang Nga. Về sau, hướng tiếp cận này tiếp tục được các nhà khoa học khác củng cố về mặt lý luận và thực tiễn trong tổ chức định hướng không gian sản xuất cho các ngành nông, lâm nghiệp và du lịch (A.
Những kết quả nghiên cứu nổi bật của các nhà địa lý theo hướng cảnh quan học ứng dụng trong TCLT được thể hiện trong tuyển tập Hội nghị khoa học cảnh quan quốc tế lần thứ XI (2006) tại Matxcơva, với 46 báo cáo khoa học (mục Tổ chức lãnh thổ và Quy hoạch cảnh quan) của các nhà khoa học nổi tiếng như: V. Bonkov,… đã công bố các kết quả nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) học ứng dụng trong tổ chức, quy hoạch lãnh thổ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới [8]. Hướng ứng dụng cảnh quan trong TCLT còn được thể hiện trong các ngành kinh tế. Trong đó ngành nông nghiệp với kết quả nghiên cứu của L.V Sysuev (2006) nghiên cứu những cơ sở khoa học cảnh quan để quản lý rừng tối ưu (dẫn theo [6], [7]); Ro Haines - Yong định lượng hóa cấu 7 trúc CQ qua các chỉ số cảnh quan để quản lý rừng có hiệu quả [9]; đối với du lịch là các nghiên cứu của I.Schastnaya (2007) về tổ chức không gian du lịch trên cơ sở kết quả đánh giá cảnh quan [10]; ngoài ra các kết quả nghiên cứu giá trị chức năng giải trí cảnh quan để phục vụ mục đích quy hoạch, phát triển du lịch của D.
Một hướng nghiên cứu tương đối phổ biến hiện nay là nghiên cứu cấu trúc cảnh quan. Hướng nghiên cứu này được thể hiện hầu ở hết tất cả các công trình nghiên cứu về CQ của bất kỳ lãnh thổ nào. Nếu không nghiên cứu cấu trúc cảnh quan, thì không khái quát được quy luật phân hóa tự nhiên đặc thù của lãnh thổ. Theo hướng nghiên cứu này có các nhà khoa học tiêu biểu: L.Nhikolaev (1969) đã có những kết quả ban đầu khi tính toán chỉ số cấu trúc hình thái ở Kazăcxtan.
Trong hướng nghiên cứu CQ phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ trường phái Tây Âu và Mỹ đã vận dụng các phần mềm tích hợp trong GIS để nghiên cứu cấu trúc hình thái cảnh quan. Nổi bật là Stejskalova và cộng sự (2013), Angela Lausch cùng cộng sự (2015) nhấn mạnh vai trò của các chỉ số cấu trúc hình thái cảnh quan trong phân tích cấu trúc cảnh quan [12], [13]; Evelyn Uuemaa và cộng sự (2011) đi tìm các chỉ số cảnh quan để nhận diện sự khác nhau cơ bản giữa các cảnh quan của Estonia [14]; Szilárd SZABÓ và cộng sự (2008) chứng minh các chỉ số cảnh quan và hiện trạng sử dụng đất là công cụ để quản lý cảnh quan [15]; Martin Balej (2011) nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc hình thái cảnh quan qua các chỉ số chủ yếu như: Nu P, PD, ED, MPS, AWMSI và các chỉ số đa dạng CQ của 2 vùng Petrovice and Tˇrebenice vùng tây bắc Cộng hòa Séc từ 1948 đến 2005 [16]. Đánh giá vai trò của các nhân tố trong cấu trúc cảnh quan theo hướng đi sâu vào mối quan hệ tác động, trao đổi vật chất giữa các thành phần đó phải kể đến A.Xorokovoi (2008) với kết quả nghiên cứu “Phân tích cấu trúc cảnh quan vùng hồ Bai Can bằng hệ thông tin địa lý”. Trong công trình này ông đã chỉ ra rằng: sự phức tạp trong cấu trúc CQ vùng này là do các yếu tố như độ dốc và độ cao địa hình, điều kiện hình thành lớp băng vĩnh cửu, độ dày mạng lưới thủy văn, cán cân năng lượng bức xạ Mặt Trời và cuối cùng là sự tác động của con người.
Những kết quả nghiên cứu là cơ sở để tổ chức không gian sản xuất các ngành kinh tế. Phân tích chức năng CQ nhằm làm sáng tỏ giá trị sử dụng của cảnh quan. Tiêu biểu trong lĩnh vực này là E.de Groot (1992) đã đưa ra cách phân loại chức năng CQ; R.Wilson (2006), Meyer và R.Grabau (2008) đánh giá những ảnh hưởng của đặc điểm phân hóa cấu trúc tới chức năng CQ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đánh giá chức năng và tiềm năng CQ được coi là công cụ hữu hiệu trong vấn đề quyết định loại hình sử dụng đất [20].