Luận văn thạc sĩ: Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945

Khám phá cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945 qua luận văn thạc sĩ sâu sắc và phân tích.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2013

115
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bức tranh xã hội Việt Nam trước 1945

Bức tranh xã hội Việt Nam trước năm 1945 được phản ánh sâu sắc trong văn học hiện thực phê phán, đặc biệt qua các tác phẩm của Nam CaoNguyên Hồng. Xã hội Việt Nam thời kỳ này chìm trong cảnh nghèo đói, bóc lột dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến. Cái đói trở thành nỗi ám ảnh thường trực, đặc biệt trong nông thôn, nơi người dân phải chịu đựng sưu cao thuế nặng, thiên tai, và sự bóc lột của cường hào. Miếng ăn trở thành mục tiêu sống còn, phản ánh sự khốn cùng của con người. Cảnh đói khát, chết chóc lan tràn, đặc biệt trong nạn đói năm Ất Dậu, khiến xã hội Việt Nam trở nên đen tối và bế tắc.

1.1. Nông thôn Việt Nam trước 1945

Nông thôn Việt Nam trước 1945 là bức tranh đầy bi thương, nơi cái đóimiếng ăn trở thành nỗi ám ảnh. Người nông dân phải chịu đựng sự bóc lột từ cường hào, địa chủ, cùng với thiên tai và sưu thuế nặng nề. Nam Cao đã khắc họa rõ nét cảnh sống nghèo khổ, đói khát của người nông dân qua các tác phẩm như 'Chí Phèo', 'Lão Hạc'. Nguyên Hồng cũng không kém phần chân thực khi miêu tả cuộc sống cơ cực của những người lao động nghèo trong 'Bỉ vỏ'. Cả hai nhà văn đều phản ánh sự tha hóa nhân cách do cái đói gây ra, khiến con người phải đánh đổi nhân phẩm để có được miếng ăn.

1.2. Thành thị Việt Nam trước 1945

Thành thị Việt Nam trước 1945 cũng không kém phần bi đát. Tầng lớp tiểu tư sản và trí thức sống trong cảnh bấp bênh, thất nghiệp, và nghèo đói. Nam Cao đã khắc họa rõ nét cuộc sống tù túng của người trí thức nghèo trong 'Sống mòn', nơi họ phải đối mặt với sự tha hóa và tuyệt vọng. Nguyên Hồng cũng phản ánh sự khốn cùng của người lao động thành thị qua các tác phẩm như 'Những ngày thơ ấu'. Cả hai nhà văn đều cho thấy cái đói không chỉ là vấn đề vật chất mà còn là sự đe dọa đến nhân cách và tinh thần con người.

II. Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao và Nguyên Hồng

Cái đóimiếng ăn là chủ đề trung tâm trong các tác phẩm của Nam CaoNguyên Hồng. Cả hai nhà văn đều tập trung khắc họa sự khốn cùng của con người trước cái đói, đồng thời phản ánh sự tha hóa nhân cách do miếng ăn gây ra. Nam Cao thường xây dựng các tình huống éo le, nơi nhân vật phải đối mặt với sự lựa chọn giữa nhân phẩm và sự sống. Nguyên Hồng lại tập trung vào khát vọng sống và sự phản kháng của con người trước cái đói. Cả hai đều thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc, đồng thời phê phán xã hội bất công đã đẩy con người vào cảnh khốn cùng.

2.1. Cái đói trong truyện ngắn Nam Cao

Trong truyện ngắn của Nam Cao, cái đói được miêu tả như một thử thách ghê gớm đối với nhân cách con người. Nhân vật của ông thường phải đối mặt với sự lựa chọn giữa nhân phẩm và miếng ăn, như trong 'Lão Hạc', khi lão phải bán con chó để có tiền sống qua ngày. Nam Cao cũng khắc họa sự tha hóa của người trí thức nghèo trong 'Sống mòn', nơi họ phải từ bỏ lý tưởng để tồn tại. Cái đói trong tác phẩm của Nam Cao không chỉ là nỗi đau thể xác mà còn là sự đe dọa đến tâm hồn và nhân cách.

2.2. Cái đói trong truyện ngắn Nguyên Hồng

Nguyên Hồng tập trung vào khát vọng sống và sự phản kháng của con người trước cái đói. Trong 'Bỉ vỏ', nhân vật chính phải đối mặt với sự khốn cùng nhưng vẫn giữ được nhân phẩm và khát vọng sống. Nguyên Hồng cũng phản ánh sự đấu tranh của người lao động nghèo để vượt qua cái đói, như trong 'Những ngày thơ ấu'. Tác phẩm của ông thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc, đồng thời phê phán xã hội bất công đã đẩy con người vào cảnh khốn cùng.

III. Nghệ thuật thể hiện cái đói và miếng ăn

Nam CaoNguyên Hồng đều sử dụng nghệ thuật kể chuyện độc đáo để thể hiện cái đóimiếng ăn. Nam Cao thường xây dựng các tình huống éo le, nơi nhân vật phải đối mặt với sự lựa chọn giữa nhân phẩm và sự sống. Nguyên Hồng lại tập trung vào diễn biến tâm lý nhân vật, khắc họa sự đấu tranh nội tâm của họ trước cái đói. Cả hai nhà văn đều sử dụng ngôn ngữ chân thực, gần gũi với đời sống quần chúng, tạo nên sức hấp dẫn và tính chân thực cho tác phẩm.

3.1. Nghệ thuật xây dựng tình huống

Nam Cao thường xây dựng các tình huống éo le, nơi nhân vật phải đối mặt với sự lựa chọn giữa nhân phẩm và miếng ăn. Trong 'Lão Hạc', lão phải bán con chó để có tiền sống qua ngày, một quyết định đầy đau đớn nhưng cần thiết để tồn tại. Nguyên Hồng cũng tạo ra các tình huống bi kịch, như trong 'Bỉ vỏ', khi nhân vật chính phải đối mặt với sự khốn cùng nhưng vẫn giữ được nhân phẩm. Các tình huống này không chỉ phản ánh cái đói mà còn khắc họa sự đấu tranh nội tâm của nhân vật.

3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật

Cả Nam CaoNguyên Hồng đều sử dụng ngôn ngữ chân thực, gần gũi với đời sống quần chúng. Nam Cao thường sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để khắc họa sự đấu tranh tâm lý của nhân vật. Nguyên Hồng lại tập trung vào ngôn ngữ đối thoại, tạo nên sự sống động và chân thực cho tác phẩm. Cả hai nhà văn đều thể hiện tài năng nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ để phản ánh cái đóimiếng ăn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của nam cao và nguyên hồng trước năm 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn triển khai làm ba chương: Chƣơng 1: Nam Cao và Nguyên Hồng trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 Chƣơng 2: Cái đói và miếng ăn – nguồn cảm hứng lớn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng Chƣơng 3: Những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện HVCH: Nguyễn Thị Hồng 6 Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NAM CAO VÀ NGUYÊN HỒNG TRONG DÒNG VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN 1930 - 1945 1. Bức tranh xã hội Việt Nam trƣớc năm 1945 Bức tranh xã hội Việt Nam trước năm 1945 đã đi vào văn học khá sớm, nhưng mỗi trào lưu, mỗi nhà văn lại phản ánh những khía cạnh khác nhau. Văn học lãng mạn tiêu biểu là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã cho chúng ta những bức tranh quê tuy có lúc là cảnh bùn lầy nước đọng nhưng nhìn chung đều đẹp đẽ, thơ mộng. Xã hội Việt Nam chỉ thực sự được tái hiện khi các tác phẩm của dòng văn học hiện thực ra đời với những đóng góp đặc sắc của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng… Với họ, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ không có cảnh êm đềm, thi vị mà đó là nơi diễn ra nhiều thảm cảnh đau lòng.

Xã hội Việt Nam những ngày tiền cách mạng thật là đen tối. Đó là thời kỳ mà nước ta phải sống trong cảnh một cổ hai tròng. Thực dân Pháp và phát xít Nhật câu kết với nhau thi hành nhiều chính sách bóc lột vô cùng thâm độc, thực chất chỉ nhằm mục đích vơ vét về kinh tế. Thực dân Pháp đã thi hành chính sách kinh tế độc quyền biến Việt Nam trở thành một thuộc địa cung cấp nguồn nhân công rẻ mạt và nguồn nguyên liệu béo bở cho chính quốc, là nơi cho vay nặng lãi cắt cổ và thu thuế vô tội vạ, nơi mua rẻ hàng nông phẩm và bán đắt hàng công nghiệp, và là nơi độc quyền ngoại thương, độc quyền bán rượu, thuốc phiện, tăng thuế khóa và hàng trăm thứ hạch sách, phu phen, tạp dịch khác.

Trong và sau đại chiến lần thứ nhất, đế quốc Pháp đã hai lần khai thác thuộc địa đẩy nhân dân ta lún sâu hơn nữa vào cảnh bần cùng. Tiếp đó, chúng lại tăng cường bóc lột để bù đắp cho những thiệt hại ghê gớm do cuộc khủng hoảng trầm trọng đã đẩy lùi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vào cuối thế kỉ XIX. Chúng hạ lương viên chức, đình chỉ sản xuất, làm cho hàng hóa trong nước bị đình trệ, buộc người dân phải tiêu thụ hàng hóa ứ đọng của Pháp. Ngân hàng Đông Dương lại rút bớt giấy bạc làm cho hàng hóa, nông phẩm rẻ mạt, đẩy nông dân và công thương nghiệp HVCH: Nguyễn Thị Hồng 7 Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945 phá sản, vỡ nợ (năm 1929 có 177 nhà buôn phá sản, con số đó lên tới 209 vào năm 1933).

Hàng triệu người (kể cả trí thức) không có việc làm, lại thêm mấy năm lũ lụt, hạn hán liên tiếp nên nạn đói càng trầm trọng. Trong đại chiến thế giới lần thứ hai, nhân dân ta lại càng rơi vào cảnh khốn cùng. Thực dân Pháp và phát xít Nhật lại hùa nhau vơ vét đến tận cùng tài nguyên thiên nhiên của ta để phục vụ cho chiến tranh, làm cho giá cả sinh hoạt năm 1945 đắt gấp 25 lần năm 1939, nhân dân chết đói đầy đường, thế mà phát xít Nhật vẫn xuất cảng 50 vạn tấn gạo. Số gạo này có thể nuôi 10 triệu dân trong bảy tháng, vậy mà chúng âm mưu để cho hai triệu đồng bào ta chết đói.

Bên cạnh mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp cũng hết sức gay gắt. Dưới chế độ phong kiến, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ bởi sự bóc lột vô cùng tàn bạo của bọn cường hào, ác bá. Chúng ra sức đấu đá nhau để giành giật miếng ăn, mà nạn nhân không ai khác chính là tầng lớp lao động nghèo. Đâu đâu cũng thấy cảnh hà hiếp, cướp đoạt, đánh đập, cùm kẹp của bọn cường hào trút lên đầu những người nghèo khổ.

Đời sống nhân dân vốn vô cùng cực khổ lại thêm vào đó hàng trăm thứ sưu cao, thuế nặng. Chúng ta có thể thấy rõ cái không khí ngột ngạt của làng quê Việt Nam trong những năm trước Cách mạng tháng Tám qua tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Tác phẩm cho ta cảm nhận được cái chộn rộn, lo âu đến vò xé, đến nghẹn thở của mùa sưu thuế. Nhân dân rơi vào cảnh đói khát triền miên.

Khủng khiếp nhất đó là cái đói năm Ất Dậu, đâu đâu ta cũng bắt gặp những xác chết, những bóng ma dật dờ. Thi sĩ Bàng Bá Lân đã ghi lại cảnh chết đói kinh hoàng đó như sau: “ Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương! Những thây ma thất thểu đầy đường Rồi ngã gục không đứng lên vì đói!” Nếu như đời sống nông thôn cực khổ là vậy, thì ở xã hội thành thị Việt Nam cũng bị nghèo đói xơ xác. Dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, giai cấp tiểu tư sản cũng là một trong những giai cấp phải chịu đựng nhiều cay đắng, đe dọa HVCH: Nguyễn Thị Hồng 8 Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945 về đời sống nhất. Tầng lớp tiểu tư sản nghèo sống bấp bênh và khổ cực.

Ngay đến những viên chức, trí thức tự do cũng lâm vào hoàn cảnh khó khăn về vật chất, tù túng về tinh thần. Họ bị khinh rẻ, chà đạp, sống một cuộc sống có hôm nay mà không biết đến ngày mai, hàng ngày bị kinh tế khủng hoảng, bị chiến tranh, nạn thất nghiệp và bệnh tật, nghèo đói đe dọa. Xã hội thực dân phong kiến ở nông thôn cũng như thành thị ngày càng bộc lộ những ung nhọt đang tấy lên trầm trọng không thể nào che dấu được. Trong những ngày xã hội lâm vào cảnh bế tắc ngột ngạt nhất, Nam Cao và Nguyên Hồng cho ra đời những đứa con tinh thần của mình.

Những sáng tác đó đã đem đến cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam trước năm 1945, trong đó con người với những nỗi thống khổ của mình đã rung lên hồi chuông báo động: Hãy cứu lấy con người. Nam Cao và số phận những ngƣời cùng khổ 1. Nam Cao – từ cuộc đời đến tác phẩm Nam Cao vốn sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo. Ông thân sinh ra Nam Cao vốn làm nghề chạm trổ và bốc thuốc Bắc.

Sau cha ông trở thành chủ một hiệu đồ gỗ ở phố hàng Tiện – Nam Định, nhưng vì chơi bời nên của hàng đóng cửa, lại trở về làm ruộng, đời sống gia đình càng lâm vào cảnh nghèo túng. Làng của Nam Cao là một vùng ít ruộng đất, bình quân mỗi đầu người chưa đạt một sào nên mẹ ông đã phải làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Ngoài nghề làm ruộng, bà còn làm vườn, dệt vải. Quê hương nhà văn là vùng đất chiêm trũng, xa phủ huyện nên bọn cường hào địa chủ càng hoành hành.

Trong làng thường chia làm nhiều phe cánh. Quanh năm thường xảy ra các vụ kiện tụng, đánh chém nhau giữa người giàu, kẻ nghèo và giữa những bọn địa chủ kì hào có thế lực. Vì vậy, cuộc đời người dân ở đây thật là cay cực, quanh năm phải chịu nạn đói. Những chuỗi ngày mù xám kéo dài, nợ nần, thuế má, tạp dịch đè nặng trên lưng họ.

Nhưng chính đặc điểm này đã trở thành chất liệu quý cho Nam Cao khi viết về nông thôn và người nông dân. Sau này, trong sáng tác Nam Cao, những tư liệu về nông thôn, về những người nông dân đói kém đều được nhà văn lấy từ vốn sống thuở nhỏ, từ chính những người thân của nhà văn. HVCH: Nguyễn Thị Hồng 9 Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyên Hồng trước năm 1945 Nam Cao là con trai cả trong một gia đình đông anh em, có bốn em trai và ba em gái. Trong số các anh em chỉ có một mình Nam Cao được ăn học.

Nhưng cuộc sống đói nghèo và bệnh tật đã đeo đuổi Nam Cao từ khi ông còn nhỏ. Năm 1935, sau kì thi Thành Chung bị trượt, Nam Cao theo người nhà vào Sài Gòn kiếm sống bằng rất nhiều nghề “kể cả những nghề mà những người tự xưng là trí thức không làm” [3, 542]. Rời bỏ cái làng quê nghèo đói và tù túng, Nam Cao mang theo nhiều ước mơ và dự định lớn lao. Những tưởng cuộc sống nơi đất khách sẽ mở ra một chân trời mới lạ cho ông, nhưng rốt cuộc bệnh tật lại trả Nam Cao về với nơi chôn rau cắt rốn.

Trở lại quê nhà, hoàn cảnh gia đình Nam Cao lúc đó càng rơi vào tình trạng cùng quẫn “Lũ em lúc nhúc rất đông không được học, không được mặc, thường thường không đến cả ăn, gầy guộc, rách rưới, bẩn thỉu”. Ông bố vẫn rượu chè, mẹ ông phải “đảm đương mọi công việc trong gia đình, một mình cố nâng đỡ cả cái thế giới đang sụp đổ kia như một con ngựa già cố kéo một cái xe nặng lên khỏi dốc, tuy biết mình kiệt sức rồi, không thể nào còn kéo nổi nhưng vẫn kéo!” [3, 543] Nam Cao ở làng ít lâu, ôn lại kiến thức cũ và thi đậu bằng trung học. Nam Cao định xin làm công chức nhưng do bệnh tật ông không được chấp nhận. Sau đó ông được mời lên Hà Nội dạy học cho một trường tư thục của một người trong họ mở.

Mang tiếng là cậu giáo nhưng đời sống của ông cũng không hơn gì những người hàng xóm, nghĩa là vẫn thiếu ăn, thiếu mặc, vợ con đói rách. Cứ thế, cuộc đời túng thiếu, tù hãm cuốn chặt lấy ông không buông tha lúc nào. Và chính cuộc sống của anh giáo khổ trường tư nơi đây đã cung cấp cho Nam Cao một sự cảm nhận sâu sắc về thân phận người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ. Có thể nói cuộc đời của Nam Cao từ nhỏ cho tới lúc trưởng thành là một chuỗi ngày dài cực khổ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phân tích cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao và Nguyên Hồng trước 1945" khám phá sâu sắc những khía cạnh của đói nghèo và nhu cầu sinh tồn trong tác phẩm của hai tác giả nổi tiếng. Bài viết không chỉ phân tích các biểu hiện của cái đói trong văn học mà còn chỉ ra cách mà nó ảnh hưởng đến tâm lý và hành động của nhân vật. Qua đó, người đọc có thể hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và những nỗi đau mà con người phải chịu đựng trong thời kỳ khó khăn. Tài liệu này mang lại cái nhìn sâu sắc về giá trị nhân văn trong văn học, giúp độc giả cảm nhận được sức mạnh của ngôn từ trong việc phản ánh hiện thực.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các tác phẩm văn học khác, hãy tham khảo Luận văn nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai, nơi bạn có thể tìm hiểu về cách xây dựng nhân vật trong văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận văn nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh sẽ giúp bạn khám phá các kỹ thuật kể chuyện độc đáo trong văn học hiện đại. Cuối cùng, Luận văn truyện ngắn của William Somerset Maugham cũng là một tài liệu thú vị để bạn tìm hiểu về nghệ thuật viết truyện ngắn của một tác giả nổi tiếng thế giới. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng tầm nhìn và hiểu biết về văn học một cách toàn diện hơn.