Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Chương này trình bày sơ lược một số vấn đề lí thuyết cơ bản được luận văn sử dụng làm căn cứ lí luận cho đề tài, cụ thể: lí thuyết về chiếu vật, lí thuyết về giao tiếp, lí thuyết về lịch sự, lí thuyết ba bình diện của ngôn ngữ, và lí thuyết về từ và câu. Khái quát về chiếu vật 1. Khái niệm chiếu vật và phân loại nghĩa chiếu vật 1. Khái niệm chiếu vật a) Một số quan niệm về chiếu vật Chiếu vật và phương thức chiếu vật đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trực tiếp hay gián tiếp bàn đến và có những quan niệm riêng của mình.
Trong nước, không thể không kể đến ý kiến của hai nhà ngôn ngữ học có tên tuổi, đó là tác giả Cao Xuân Hạo và tác giả Đỗ Hữu Châu. Quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo Với tên gọi “sở chỉ” (thay vì cho cách gọi “chiếu vật” như một số nhà nghiên cứu khác), Cao Xuân Hạo đã nêu khái niệm “sở chỉ” như sau: “Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượng cụ thể”. Không chỉ đưa ra khác niệm về sở chỉ, tác giả còn cho rằng: muốn xác định sở chỉ của câu phải hiểu sở chỉ của các thành phần tạo câu và những tình huống nói ra câu đó. Nói cách khác, tách ra khỏi câu, từ ngữ vẫn có nghĩa nhưng chưa có sở chỉ.
Và việc xác định sở chỉ của một từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa học mà thuộc bình diện dụng pháp. Nó là mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực. Như vậy, theo ý kiến của tác giả Cao Xuân Hạo thì để hiểu nghĩa sở chỉ của từ ngữ cần phải gắn nó với thế giới hiện thực, với hoạt động giao tiếp. Tác giả còn chỉ rõ: Một danh từ riêng, một đại từ có thể được giảng nghĩa (“Nguyễn 8 Du là một nhà thơ lớn.”, “Tôi là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất.”) nhưng thật ra như thế không phải là giảng nghĩa vì danh từ riêng và đại từ xác định không có nghĩa, chỉ có sở chỉ.
“Giảng nghĩa” các từ ấy thật ra chỉ là cố gắng xác định cái sở chỉ của chúng. Đại từ không xác định cũng không có nghĩa, nó chỉ có một sở chỉ trống, khi dùng để hỏi tức là yêu cầu xác định cái sở chỉ trống ấy, và khi dùng để “phiếm chỉ” thì thật ra nó không “phiếm” chút nào. Tác giả đã dẫn ra một số ví dụ để minh chứng cho quan điểm của mình như sau: (1) Ai đi đâu đấy hỡi ai Để ai gối chiếc đêm dài năm canh? (2) Ở đâu và bao giờ, ai cũng cũng có thể đòi hỏi quiền được sống của mình. Theo tác giả, trong câu (1), ai tất nhiên phải có sở chỉ rõ ràng lắm, không thể vu vơ trong câu trách móc đáng yêu ấy.
Trong câu (2), các đại từ đâu, bao giờ, ai có nghĩa là “tất cả”: ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người đều “. Tóm lại, cách hiểu về sở chỉ của tác giả Cao Xuân Hạo cho ta một cách nhìn mới về việc xác định nghĩa của từ và các đơn vị ngôn ngữ khác khi chúng đi vào hoạt động, đó là: khi hành chức, các từ, cụm từ hay câu, v. mới có nghĩa sở chỉ. Nói cách khác, nghĩa sở chỉ của từ, cụm từ hay câu,.
chỉ xác định được khi đặt các biểu thức ngôn ngữ này trong ngữ cảnh. Quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu Như đã nói ở phần Lịch sử vấn đề, tác giả ĐHC không dùng thuật ngữ sở chỉ mà dùng thuật ngữ chiếu vật. Tác giả quan niệm: “Chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định”. “Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến”.
9 Tác giả còn chỉ rõ rằng: “Tự bản thân từ ngữ không chiếu vật. Chỉ có con người mới thực hiện hành vi chiếu vật. Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa ra sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, bằng câu”. Theo tác giả, “có rất nhiều câu cụ thể mà nhà logic không thể kết luận nội dung của chúng đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với sự vật nào đang được nói tới trong hiện thực” [8, tr.
Tác giả đã dẫn một ví dụ để chứng minh cho nhận định của mình là: Con mèo màu xanh.61] và phân tích: mệnh đề vừa dẫn sẽ sai nếu từ mèo được qui chiếu tới một sinh vật được gọi là mèo, một loài động vật biết ăn thịt, cá. và mọi người thường nuôi để nó bắt chuột, nhưng nó sẽ đúng nếu mèo được qui chiếu tới một loại đồ chơi. Tác giả Đỗ Hữu Châu còn khẳng định: “giá trị đúng sai của một câu tùy thuộc vào sự chiếu vật của các từ tạo nên câu và sự chiếu vật của cả câu. “Quan hệ chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định, nói cho đúng hơn là trong một thế giới khả hữu - hệ qui chiếu nhất định” [8, tr.
Bởi thế, theo ông, để hiểu được nghĩa của phát ngôn, diễn ngôn, trước hết phải xác định được nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vai trong diễn ngôn đó. “Xác định được nghĩa chiếu vật là xác định được, thứ nhất, thế giới khả hữu - hệ qui chiếu của diễn ngôn và thứ hai, sự vật nào (hoạt động, tính chất, trạng thái nào,.) trong đó (thế giới khả hữu) được nói tới bằng biểu thức chiếu vật của diễn ngôn đang xem xét” [8, tr. Với cách hiểu về chiếu vật như vừa trình bày, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm nghĩa chiếu vật và biểu thức chiếu vật như sau: “ Nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật” [tr. Còn “Biểu thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật” [8, tr.
10 Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng dẫn một ví dụ và phân tích để giúp người đọc hiểu về hai khái niệm này là: Nam bạn tôi học rất giỏi [8, tr. Ông chỉ rõ: trong phát ngôn trên, Nam bạn tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức chiếu vật này có cấu tạo là một cụm từ. Biểu thức Nam bạn tôi có nghĩa chiếu vật là chỉ một người tên Nam trong thực tế đã được xác định là bạn tôi, để phân biệt với những người khác cũng tên là Nam nhưng không phải là bạn tôi. So sánh phát ngôn đã dẫn của tác giả Đỗ Hữu Châu với phát ngôn: Nam học rất giỏi thì biểu thức Nam chưa xác định được nghĩa chiếu vật, bởi ta chưa biết Nam là chỉ ai trong số nhiều người có cái tên như vậy trong thực tế.
Nói tóm lại, tuy thuật ngữ khác nhau nhưng cách hiểu về chiếu vật (cách gọi của Đỗ Hữu Châu) và sở chỉ (cách gọi của Cao Xuân Hạo) đã dẫn trên có phần đồng nhất. b) Quan niệm của luận văn về chiếu vật Luận văn này theo tinh thần cơ bản của tác giả Đỗ Hữu Châu dùng khái niệm chiếu vật và tạm đưa ra một định nghĩa như sau: Chiếu vật là hành vi người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ theo một cách thức nhất định để chỉ rõ sự vật, hành động, tính chất mà mình muốn đề cập. Với cách thức này, người nói nghĩ rằng người nghe có thể qui chiếu, có thể suy ra hay nhận biết đúng sự vật, hành động, tính chất mà anh ta nói đến. Phân loại nghĩa chiếu vật Nếu nghĩa chiếu vật là sự vật, có thể chia chúng thành 4 loại, là: (1) Nghĩa chiếu vật cá thể, (2) Nghĩa chiếu vật loại, (3) Nghĩa chiếu vật một số cá thể, (4) Nghĩa chiếu vật tập hợp.
- Nghĩa chiếu vật cá thể: Khi từ, cụm từ hay câu (biểu thức chiếu vật) ứng với một cá thể ta có nghĩa chiếu vật cá thể. Ví dụ: Bạn Hương lớp tôi rất xinh. Biểu thức “Bạn Hương lớp tôi” có nghĩa chiếu vật cá thể. Biểu thức chiếu vật này dùng để qui chiếu tới một cá thể ‘Hương’- một người trong lớp ‘tôi’ chứ không phải người khác cũng có tên là ‘Hương’.
11 - Nghĩa chiếu vật một số cá thể: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một số cá thể, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật một số các thể. Ví dụ: Những con vịt trắng đang bơi kia là của nhà tôi. Giả định có rất nhiều vịt đang bơi dưới hồ, và những con vịt đó có con màu khoang nâu đen, có con màu nâu xanh, lại có con màu trắng. Khi nói “Những con vịt màu trắng.” là ta đã loại được một số con vịt ra khỏi tập hợp ‘vịt’ và biểu thức chiếu vật này qui chiếu tới ‘một số con vịt’ chứ không phải ‘một con vịt’.
Biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật một số cá thể. - Nghĩa chiếu vật loại: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một loại sự vật, ta có nghĩa chiếu vật loại. Ví dụ: Nhà tôi nuôi rất nhiều vịt. Biểu thức chiếu vật “vịt” qui chiếu tới một loại động vật, đó là loài vịt chứ không phải là ngan, gà hay ngỗng.
Biểu thức “vịt” có nghĩa chiếu vật loại. - Nghĩa chiếu vật tập hợp: Khi một biểu thức chiếu vật ứng với một số sự vật đồng chất, tức một số sự vật này là một nhóm đã được phân loại theo tiêu chí giống nhau, ta nói biểu thức chiếu vật đó có nghĩa chiếu vật tập hợp. Ví dụ: (Cô giáo nói) Tất cả các em nhóm học sinh giỏi văn sẽ học thêm vào buổi sáng; còn tất cả các em nhóm học sinh giỏi toán sẽ học thêm vào buổi chiều. Các biểu thức “nhóm học sinh giỏi văn”, “nhóm học sinh giỏi toán” được qui chiếu tới một nhóm sinh viên có chung bản chất: ‘giỏi văn’ hay ‘giỏi toán’.
Phân biệt nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật - Nghĩa của từ ngữ được ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật. Đây là những nghĩa chỉ phạm vi sự vật, hiện tượng mà cái từ ngữ đó có thể được dùng. - Trong ngôn bản thì nghĩa biểu vật trở thành nghĩa chiếu vật.