Chương 1: giới thiệu về dé tài nghiên cứu, đặt van dé lý do dẫn đến nghiên cứu, xác định rõ ràng các mục tiêu nghiên cứu, và đóng góp của luận văn. - Chương 2: tong quan về VE, tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của VE, các định nghĩa, thuật ngữ, quy trình thực hiện VE, các nghiên cứu tương tự đã thực hiện tại Việt Nam và trên thế giới. - Chương 3: m6 ta quy trình nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, công cụ nghiên cứu. - Chương 4: phân tích kết quả từ bảng câu hỏi khảo sát và thực hiện so sánh những yếu tố cản trở quan trọng tại Việt Nam với Trung Quốc và Malaysia.
- Chương 5: trình bày các kết luận, kiến nghị và các gợi ý cho những nghiên cứu xa hơn. HVTH: NGUYÊN BÁ QUANG Trang 12 LUẬN VĂN THAC SĨ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN 2.1 NGUON GÓC RA ĐỜI CUA VE VE đã được thai nghén từ đầu những năm 1940 bởi Lawrence D. Miles trong khi ông đang làm việc cho tổng công ty điện lực GE ( General Electric company), một nhà thầu quốc phòng lớn của Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguyên liệu chiến lược cần thiết dé sản xuất các thiết bị chiến tranh trong suốt Thế chiến thứ II.
Ông Miles nhận ra rằng nếu việc cải thiện và đổi mới giá trị sản phẩm có thể bắt đầu từ hệ thống "quản lý", thì General Electric sẽ có một lợi thé cạnh tranh lớn trên thị trường. Với ý nghĩ đó, ông Miles chấp nhận thách thức và đưa ra các khái niệm phân tích công nang, mà ông tích hợp vào một quá trình sáng tạo sau này ông gọi là phân tích giá tri (Value Analysis). Sự kiện kích hoạt cho sự phat triển của VE là "vụ việc về van dé amiăng”, xảy ra vào năm 1947 tại tổng công ty điện lực General Electric, của Mỹ khi Thế giới chiến II vừa kết thúc. Amiăng, một loại vật liệu ván sàn thường được chỉ định cho nhà kho, được cung cấp rất hạn chế.
Thông qua một số nhà cung cấp chuyên nghiệp, công ty General Electric phát hiện ra một vật liệu thay thế có sẵn với chi phí thấp hơn nhưng lại có hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, trong quy định về kiểm soát cháy nỗ có quy định về việc sử dụng amiăng trong các sản, cũng như cắm sử dụng vật liệu thay thế. Vụ việc này giúp General Electric được hưởng lợi trong một thời gian dài. Vì thế, nó thúc đây nghiên cứu các công năng của những sản phẩm khác nhau.
Một đội nhóm nghiên cứu do ông Lawrence D. Miles đứng đầu được thành lập dé tim ra phương pháp tốt nhất để cải thiện giá trị của bất kỳ sản phẩm nào. Nhóm đã tiến hành nghiên cứu trong 5 năm với ngân sách 3 triệu đô la. Hệ HVTH: NGUYÊN BÁ QUANG Trang 13 LUẬN VĂN THAC SĨ GVHD: PGS.
LƯU TRƯỜNG VĂN thống mà họ phát triển là những gì chúng ta biết về Value Engineering (VE), hay phân tích giá tri gia tăng (Value Analysis). Năm 1954, Cục hải quân Mỹ đã sử dụng quy trình này để cải thiện chỉ phí trong suốt giai đoạn thiết kế. Họ gọi nó là “Value Engineering”. VE đã được sử dụng chính thức trong bộ quốc phòng Mỹ từ những năm 1961.
Năm 1960, Charles Bytheway đã bố sung thêm các thành phần cơ bản của VE, một quy trình phân tích đường công năng chính có thể nhắn mạnh sự logic của các công tác khi nghiên cứu về giá trị. Đó là hệ thống kỹ thuật phân tích công năng “Functional Analysis System Technique” (FAST), một thành phân tiêu chuẩn của phương pháp giá tri. Nam 1985, quy trình VE phát triển mạnh mẽ và được chấp nhận rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Anh, Úc, Canada. cùng với sự ra đời của hiệp hội VE quốc te “ Society of American Value Engineers International” (SAVE Int.) dành riêng cho các hoạt động va nghiên cứu về VE.
Năm 1997, SAVE đã thông qua một tiêu chuẩn cho phương pháp luận VE, các hội nghị thảo luận về VE luôn được SAVE tổ chức hang năm. Ngày nay, VE trở nên pho biến hơn, đã có nhiều nghiên cứu, ứng dụng của VE, các quy trình, số tay thực hiện VE được áp dung cho các tô chức, đơn vị trên toàn thế giới (Việt, 2013). THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA 2. Tuy nhiên, giá tri là một thuật ngữ được giải thích với nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh.
Trong luận văn này, thuật ngữ giá trị được giải thích trong ngữ cảnh của phương pháp luận VE. Gia tri mang cả hai đặc tính: chủ quan và khách quan. Nó được trình bày trong điều khoản về việc sử dung, chat lượng cua công việc đã hoàn thành, dich vụ; tính năng sở hữu của đôi tượng mong muôn; chi phí, tông sô lao động, vật HVTH: NGUYÊN BÁ QUANG Trang 14 LUẬN VĂN THAC SĨ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN liệu, chi chí dự phòng và các chi phí khác cần thiết để sản suất (Mudge, 1976; SAVE, 2001 đã trích dẫn bởi Gongbo, 2009).
DellIsola (1997) đã định nghĩa giá tri là cách sử dụng chi phí hiệu quả nhất để hoàn thành một công năng nhằm đạt nhu cầu, mong muốn và kỳ vọng của người sử dụng. Kelly et al (2004) (đã trích dẫn bởi Gongbo, 2009) đã định nghĩa giá trị là sự tương đương cua một hạng mục rõ ràng trong đơn vi của đồng tiền, nỗ lực hoặc trao đổi. Hơn nữa, gia tri co thé duoc do lường trên một thang đo so sánh, phản ánh mong muốn đạt được hay giữ lại một hạng mục nào đó. Về khía cạnh này, có hai thành phân với quan điểm khác nhau về giá trị.
Thứ nhất là thành phần khách quan, nhìn nhận giá trị theo quan điểm kinh tế. Còn lại là thành phan chủ quan cho rằng giá trị bắt nguồn từ những sự chọn lựa của cá nhân hay một nhóm người về chỉ phí, giá, lợi ích và sự thỏa mãn về sự tiêu thụ. ° lv + SJVE (1981) xác định giá trị bằng việc lập tỉ lệ công năng va chi phí phải trả để đạt được công năng tương ứng. Mối quan hệ giữa giá trị, công năng, chỉ phí được mồ tả như sau: công năng Gia tri = chi phi Dựa vào phương trình trên, về mặt lý thuyết giá trị của sản pham hoặc dich vụ có thé gia tăng trong khi vẫn đảm bảo chất lượng bang cách: o Nâng cao công năng, giảm chi phí o Đảm bao công năng, giảm chi phí.
o Đảm bao chi phí, nâng cao công nang. o Công nang nâng cao hơn so với sự tăng chi phí. o Chi phí giảm nhiêu hơn so với sự giảm công năng s* DellIsola (1997) hiểu giá trị là mối quan hệ giữa công năng, chất lượng, chi phí. Do đó, ông định nghĩa giá trị như sau: “giá tri là cách sử dụng chi phí hiệu quả nhât dé hoàn thành một công năng nhăm đạt nhu câu, mong muôn và ky HVTH: NGUYÊN BÁ QUANG Trang 15 LUẬN VĂN THAC SĨ GVHD: PGS.
LƯU TRƯỜNG VĂN vọng của người sử dụng” chức năng + chất lượng Gia tri= chi phi * Theo hiệp hội VE quốc tế (SAVE, 2007) giá trị được định nghĩa như sự hoàn trả công bang, sự tương đương trong hàng hóa, trong dịch vụ hoặc thé hiện băng đồng tiễn cho sự trao đổi, thường thé hiện giá trỊ bang moi quan hé sau: công năng Gia tri ~ tai nguyén Trong đó công năng được đo lường bởi các yêu cầu từ khách hàng va tài nguyên được đo lường bởi nguồn vật liệu, nhân công, chi phí, thời gian,. đòi hỏi để hoàn thành công năng đó. “se Với những quan điểm như trên, có thé kết luận giá trị trong VE là mỗi quan hệ liên quan giữa những yêu cầu của người sử dụng về công năng và chỉ phí. Về bản chất, nó là khả năng của sản phẩm hay dich vụ dé làm thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng về những chỉ phí đã trả.
Ở phương diện này, giá trị được quyết định bởi sự đánh giá, sự ky vọng va sự hiểu biết của người sử dụng.2 ĐỊNH NGHĨA VE Có một sự bối rỗi đáng kế bao quanh việc sử dụng thuật ngữ nào trong quy trình quản lý và nâng cao giá trị trên bình diện quốc tế. Những thuật ngữ được sử dụng rộng rãi nhất là “value engineering” (VE), “value analysis”(VA) và “value management’(VM), chúng được sử dung để thay thé cho nhau trong các tài liệu liên quan. s%* Tai các quốc gia và châu lục có VE phát triển mạnh như Mỹ, An Độ, Nhật Ban, các nước Châu Au, VE được định nghĩa như sau: - Tại Mỹ theo hiệp hội VE quốc tế (SAVE.Int, 2007), VE được định HVTH: NGUYÊN BÁ QUANG Trang l6 LUẬN VĂN THAC SĨ GVHD: PGS. LƯU TRƯỜNG VĂN nghĩa là một quy trình có hệ thống theo kế hoạch công việc, áp dụng bởi đa đội nhóm để nâng cao giá trị của một dự án thông qua việc phân tích các công năng.
- Tai An Độ (INVEST), VE là một su định hướng công năng, một cach tiếp cận đội nhóm có hệ thống, nghiên cứu nhăm cung cấp giá trị cho một sản phẩm, hệ thống hoặc dịch vụ. Thông thường sự cải thiện này tập trung vào giảm chi phí mà không ảnh hưởng tới chất lượng, năng suất của sản phẩm, dịch vụ theo yêu cau của khách hàng. - Tai Nhat Ban (SJVE), VE được định nghĩa là một phương pháp tiếp cận có hệ thống dé phân tích những yêu cầu về công năng của sản phẩm va dịch vụ nhăm dat được những công năng cần thiết với tong chi phí thấp nhất. - Tai Chau Au (IVM, 2013), VE duoc hiéu nhu Value Management la một phương pháp tiếp cận bằng đội nhóm có cau trúc dé xác định các công năng yêu câu của dự án với mục tiêu tôi ưu hóa công năng với chi phí thâp nhat.
Các tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực này cũng đã đưa ra những định nghĩa về VE - D.Miles (1993) VE là một hệ thống giải quyết vấn đề, thực hiện bằng việc sử dụng những kỹ thuật cụ thể, dựa trên kiến thức, kỹ năng của đội nhóm. Đó là một cách tiếp cận có tổ chức sáng tạo với mục đích loại trừ các chi phí không cần thiết mà không ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tính năng yêu cầu của khách hàng. - Dell’Isola (1997) VE là một quy trình có tô chức, một nỗ lực chặt chẽ có hệ thông được thực hiện bởi da đội nhóm, đại diện cho tất cả các bên liên quan với mục tiêu cải thiện giá trị, tối ưu vòng đời chi phí của dự án.