Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu Chương này giải thích lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Trình bày các lý thuyết về SME; khái niệm về nợ vay; khái niệm khả năng trả nợ đồng thời, chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng, cũng như các công bố khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến nghiên cứu. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết. Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 3 trình bày cơ sở của mô hình, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu.
Ngoài ra, chương này còn thể hiện phương pháp, quy trình nghiên cứu; phương pháp xác định mẫu, thu thập số liệu thứ cấp; và các phương pháp xử lý, phân tích số liệu của nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Dựa trên các phương pháp phân tích số liệu, chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu và các kiểm định, từ đó đề ra mô hình nghiên cứu hợp lý nhất. Đồng thời, chương cũng trình bày một số thảo luận, nhận định về các kết quả; đối chiếu, so sánh với các nghiên cứu tương tự trong và ngoài nước Chương 5: Kết luận và một số hàm ý quản trị Chương này sẽ tóm tắt lại kết quả, từ đó đưa ra các kết luận của nghiên cứu. Đồng thời, chương 5 cũng trình bày các hàm ý quản trị và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng trả nợ của các SME tại MBbank Bến Thành. Cuối cùng, chương này nêu lên những hạn chế của nghiên cứu, và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này tác giả trình bày các lý thuyết về SME; khái niệm về nợ vay; khái niệm khả năng trả nợ đồng thời, chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng, cũng như các công bố khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến nghiên cứu. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm SME tùy thuộc vào điều kiện mỗi quốc gia cụ thể là trình độ phát triển trong từng giai đoạn và tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi ngành, nghề kinh doanh.
Thông thường khi xác định tiêu chuẩn thế nào là SME, chính phủ mỗi quốc gia sẽ đề ra các tiêu chí như: tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp, doanh thu hay tổng vốn hoặc giá trị tài sản. Theo Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc, Trần Nguyên Bình (2019): “Các SMEs được định nghĩa là những doanh nghiệp có vốn mỏng, sử dụng ít lao động và có quy mô hoạt động nhỏ bé (thường được đo lường qua chỉ số doanh thu hàng năm). Các SMEs cũng có thể được chia thành các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa)”. Các SME có thể được chia thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Để nhận dạng một doanh nghiệp có phải là một SME hay không, phải căn cứ vào các tiêu chí do các tổ chức hoặc các chính phủ của các nước quy định. Theo Khuyến nghị số 2003/361/EC ngày 06/5/2003 của Ủy ban châu Âu, Ủy ban này đã đưa ra các định nghĩa về những tiêu chí tạo nên một công ty quy mô nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 50 lao động, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có dưới 250 lao động. Tại Hoa Kỳ, theo Small Business Administration (SBA) đã xác định, Hầu hết các công ty có ít hơn 500 nhân viên có doanh thu hàng năm dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất được coi là doanh nghiệp nhỏ và 7 vừa.
Tuy nhiên, một số ngành được phép lên đến 1.250 lao động và có doanh thu hàng năm tăng lên 35,5 triệu đô la đối với ngành sản xuất. Theo Key Small Business Statistics (January 2019), Ở Canada, chính phủ nước này đã xác định từng loại hình doanh nghiệp dựa trên số lượng nhân viên mà doanh nghiệp đó có. Cụ thể doanh nghiệp nhỏ sẽ có 5 đến 99 nhân viên, doanh nghiệp vừa có 100 đến 499 nhân viên và các doanh nghiệp lớn có hơn 500 nhân viên. Ở Trung Quốc, Theo thông tin mà Chính phủ của họ ban hành, hệ thống phân loại quy mô của các công ty khá phức tạp.
Đối với mỗi lĩnh vực hay nhóm ngành sẽ có một bộ tiêu chuẩn riêng. Cụ thể, trong số lĩnh vực & nhóm ngành trọng điểm, một số ví dụ có thể kể tới như: Đối với Nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và thủy sản, những doanh nghiệp có doanh thu dưới 200 triệu nhân dân tệ là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa; Đối với ngành sản xuất những doanh nghiệp có chưa đến 1.000 nhân viên hoặc doanh thu dưới 400 triệu nhân dân tệ được xem là doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ;…. Đối với các ngành không được kể tới, khác những doanh nghiệp có từ dưới 300 lao động là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Trong đó, doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên là doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên là doanh nghiệp nhỏ.
Ở Việt Nam, căn cứ theo quy định tại Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ–CP do chính phủ ban hành ngày 26 tháng 8 năm 2021.Trong điều luật đã đề ra các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc 8 tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Tóm lược theo cách tiếp cận của đề tài thì SME là những cơ sở kinh doanh đã hoàn thành các thủ tục đăng kí theo quy định của pháp luật và được cấp phép kinh doanh với việc duy trì mức doanh thu, tài sản hoặc số lượng nhân viên ở một giới hạn nhất định. Về cơ bản, nếu xác định được quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân trong năm, doanh nghiệpđó sẽ được phân loại thành các cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực và trên toàn thế giới, là doanh nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng số tất cả quy mô doanh nghiệp. Những SME này có nhu cầu sử dụng hơn một nửa tổng số lao động xã hội và đóng góp giá trị khổng lồ cho nền kinh khi cung cấp và giải quyết việc làm cho 65% người lao động trên toàn cầu. Giúp đồng thời giảm tỷ lệ thất nghiệp và góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Việc các doanh nghiệp SME có xu hướng thu hút và sử dụng lao động tại địa 9 phương gián tiếp giúp quốc gia giải quyết nhiều khó khăn đối với bài toán nhân lực trong nước.
Phần lớn các doanh nghiệp SME có quy mô vốn hạn chế và thường gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn lớn từ các ngân hàng, tổ chức đầu tư hay các nhà đầu tư cá nhân. Điều này tạo ra rào cản trong việc nâng cấp, cập nhật các thay đổi về máy móc thiết bị, dây chuyền hay phương tiện vận chuyển cần thiết để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc này làm chậm lại sự phát triển của các doanh nghiệp này.Hơn nữa, các doanh nghiệp SME thường có ít lợi thế hơn khi phải đối mặt với thị trường mà đặc biệt là môi trường cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn lớn trong ngành dịch vụ. Vì vậy, SME thường gặp nhiều khó khăn khi phát triển và xây dựng thị phần trong quá trình chiếm lĩnh thị trường, đặc biệt là ở đối với môi trường ngoài nước.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp SME thường chủ yếu tập trung hoạt động trong lĩnh vực thương mại, thay vì lĩnh vực liên quan đến sản xuất và chế biến. Do chủ yếu tham gia vào các ngành nghề liên quan đến mua bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ và phân phối hàng tiêu dùng nên doanh nghiệp sẽ phải phụ thuộc vào nguồn khách hàng còn hạn chế của mình cùng với nguồn thu nhập hạn chế, các doanh nghiệp này có nhiều khả năng gặp rủi ro tài chính khi phải đối mặt với sự biến động của thị trường hoặc vấn đề về khách hàng. KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 2.