Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp ngành nông nghiệp. Chương 2: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4: Định hướng và giải pháp thúc đây chuyên đổi số cho doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
16 CHUONG I: TONG QUAN VE CHUYEN DOI SO VÀ CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN CHUYEN DOI SO CUA DOANH NGHIEP NGANH NONG NGHIEP 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của dé tài 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước Theo Đỗ Kim Chung (2020) “Nông nghiệp công nghệ cao: Góc nhìn từ sự tiễn hóa của nông nghiệp va phát triển của công nghệ” đã chỉ ra rằng nông nghiệp công nghệ cao được dùng chính thức trong các bộ luật và chính sách của chính phủ Việt Nam.
Tuy vậy, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, khái niệm “nông nghiệp thông minh” lại được dùng phổ biến hơn “nghiệp công nghệ cao”. Trên cơ sở thảo luận sự tiến hoá của nông nghiệp gắn với sự phát triển của các phương thức sản xuất xã hội và đôi mới công nghệ và sự ra đời của nông nghiệp thông minh, bài viết này luận nội hàm “nông nghiệp công nghệ cao” trên từ cách tiếp cận của “nông nghiệp thông minh”. Cuối cùng, bài viết chỉ ra bản chất, các đặc trưng và xu hướng đổi mới công nghệ trong nền nông nghiệp công nghệ cao theo cách tiếp cận moi. Bên cạnh đó, Nam Danh Nguyen va Lan Ngoc Uong (2021) “Chuyển đổi số trong nông nghiệp - Kinh nghiệm châu Âu và gợiý cho Việt Nam” cũng đã nghiên cứu rằng với thành công của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số trong nông nghiệp hiện đang là xu hướng tất yếu nhằm bắt kịp sự chuyền đổi trong mô hình sản xuất nông nghiệp.
Bài nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quan về chuyên đổi số trong nông nghiệp và phân tích kinh nghiệm chuyên đổi số trong nông nghiệp của Đan Mạch, Estonia và Hungary 17 là các quốc gia châu Âu thực hiện thành công mô hình nông nghiệp số. Vì vậy, việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước Châu Âu là cần thiết. Đó là một trong những đề xuất đối với Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện chuyền đổi số trong nông nghiệp trong thời gian tới. Tiếp theo với phạm vi nghiên cứu tại Thành phố Hà Nội, Phạm Thanh Sơn và Đỗ Văn Phúc (2023) “Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp xanh hiệu quả, bên vững ở thành phố Hà Nội” thì phát triển nông nghiệp xanh là hướng đi tất yêu của nông nghiệp hiện đại trước tác động của biến đổi khí hậu, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng, yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao của cả nước, có nhiều điều kiện thuận lợi cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp xanh hiệu quả, bền vững, góp phan nâng cao đời sống của người dân, xây dựng thành công nông thôn mới, bảo đảm tốt an ninh lương thực và bảo vệ môi trường sinh thái của thành phó. Cùng với quan điểm đó, theo Đỗ Thị Phương Hoa (2023) với nghiên cứu “Chuyển đổi số nông nghiệp trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0” là xu hướng phát triển tất yêu khách quan, là giải pháp hữu hiệu dé khắc phục những thách thức to lớn mà ngành nông nghiệp đang phải đối mặt. Chuyển đổi số nông nghiệp giúp nông dân và doanh nghiệp nâng cao năng suất, giá tri nông sản, cải thiện lợi nhuận, tối ưu hóa sản xuất, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Bài viết giới thiệu một số mô hình chuyên đổi số ở nước ta thời gian qua, đồng thời, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đây chuyền đổi số nông nghiệp ở Việt Nam.
Với khía cạnh giảm phát thải khí nhà kính, Huỳnh Thị Lan Hương (2020) nghiên cứu về “Đánh giá tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính khi 18 triển khai hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp” đã có báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam, Việt Nam sẽ cam kết giảm nhẹ phát thải khí nhà kính từ các lĩnh vực trong đó có nông nghiệp. Báo cáo này thực hiện việc nghiên cứu tính toán lợi ích giảm phát thải khí nhà kính khi chuyền đổi diện tích trồng lúa sang cây trồng khác. Phương pháp tính toán dựa trên hướng dẫn về kiểm kê khí nhà kính của IPCC (tên tiếng Anh: Intergovernmental Panel on Climate Change là Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu- cơ quan khoa học chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro về biến đổi khí hậu do hoạt động con người gây ra). Kết quả tính toán cho thấy hoạt động thích ứng của việc chuyên đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa sang các cây trồng khác sẽ làm giảm được khoảng 2,9 triệu tấn CO2 td (tan CO2 tương đương nghĩa là khối lượng của các khí nhà kính được quy đổi thành tan CO2 theo hệ số làm nóng lên toàn cầu của các khí nhà kính đó) vào năm 2020 và 3,5 triệu tấn CO2 tđ vào năm 2030 so với năm cơ sở 2014.
Theo Nguyễn Thị Kim Ánh và Nguyễn Thị Xuân Nương (2022) “Các nhân to ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu tại Bình Dinh” cho thấy việc chuyên đổi số là tất yêu đối với doanh nghiệp nhưng dé chuyên đổi số thành công thì cần rất nhiều yếu tố. Băng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu xác định 6 nhân tô ảnh hưởng đến khả năng chuyền đổi số của các doanh nghiệp gồm: năng lực nhân viên, nền tảng công nghệ, áp lực của doanh nghiệp, lãnh đạo, chiến lược kinh doanh số và văn hóa doanh nghiệp. Thông qua kỹ thuật phân tích hồi quy bội với mẫu khảo sát tại Bình Định, nghiên cứu cho thấy 2 nhân tố có tác động mạnh nhất đến chuyên đổi số là năng lực nhân viên và nên tảng công nghệ. Ngoài ra, không có sự khác nhau về khả năng chuyền đổi số giữa các doanh nghiệp có quy mô, lĩnh vực kinh doanh và loại hình sở hữu khác nhau.
19 Đi sâu hơn vào nghiên cứu tại Đồng băng sông Hồng, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2020) “Giải pháp thu hút dau tư của doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp tại các tỉnh Đông bằng sông Hong” đã nghiên cứu rang trong những năm vừa qua, những thành tựu khoa học kỹ thuật được ứng dụng trong ngành nông nghiệp đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng, hình thành động lực thúc đây tăng trưởng và góp phan giữ gìn ồn định tại nhiều quốc gia. Là một nước nông nghiệp, giá trị ngành nông nghiệp chiếm khoảng 20% GDP, với nhiều tiềm năng về nông nghiệp như đất đai và lực lượng lao động đông đảo, van dé thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp luôn được chú trọng trong chính sách kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đồng bằng sông Hồng là khu vực nông nghiệp lớn nhất phía Bắc, do đó cần phải có bước đột phá để thu hút đầu tư của doanh nghiệp phát triển nông nghiệp. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Theo Jéssica Alves Justo Mendes (2022) với đề tai “Dimensions of digital transformation in the context of modern agriculture” đã chi ra rằng các doanh nghiệp nông nghiệp can giải đáp những lo ngại ngày càng tăng của xã hội về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu đã xác định được tám khía cạnh: Kinh tế, Chính phủ, Tính bền vững; Cơ sở hạ tang, Công nghệ, Hop tác, Thay đôi và Con người/Kiến thức/Kỹ năng. Họ đã trình bay cơ sở lý thuyết vững chắc dé phát triển các hướng dẫn quản lý nông nghiệp (của các trang trại, các công ty và công ty khởi nghiệp có liên quan khác) cũng như các chính sách công nhằm khuyến khích áp dụng và triển khai các nguồn lực công nghệ được hướng dẫn bởi các mục tiêu phát triển bền vững. Đi sâu hơn việc chuyên đổi số của doanh nghiệp ngành nông nghiệp, Xinyi Du & Kangqi Jiang (2022) đã viết trong bài nghiên cứu “Driving business productivity: The role of digital transformation” nghiên cứu nay sử dụng phân tích văn ban dé đánh giá số hóa doanh nghiệp. Hơn nữa, nó khám 20 phá tác động của chuyền đổi kỹ thuật số (Digital Transformation) của công ty đối với năng suất sử dụng dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết ở Trung Quốc từ năm 2007 đến năm 2020.
Phát hiện thực nghiệm của chúng tôi chỉ ra tác động hỗ trợ giữa cấp độ doanh nghiệp chuyên đôi kĩ thuật số và năng suất mạnh hơn ở các doanh nghiệp hạ nguồn. Bên cạnh đó, Tahar Chekadi (2022) “Knowledge representation in digital agriculture: A step towards standardised model” đã nghiên cứu rang trong những năm gan đây, khoa hoc đữ liệu đã phát triển đáng kể. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất một mô hình mới gọi là bản đồ tri thức dựa trên ontology để biểu diễn và lưu trữ kết quả (kiến thức) khai phá dữ liệu trong trồng trọt nhằm xây dựng, duy trì và làm phong phú thêm quá trình khám pha tri thức. Mô hình dé xuất bao gồm sáu bộ chính: khái niệm, thuộc tính, quan hệ, biến đồi, thé hiện va trạng thái.
Kiến trúc hệ thống bao gồm mô hình hóa kiến thức, trích xuất, đánh giá, xuất bản và khai thác. Hệ thống này đã được triển khai và sử dụng trong nông nghiệp để quản lý và giám sát cây trồng. Cùng với quan điểm đó, Yuxie & et al (2022) “How does digital transformation affect agricultural enterprises’ pro-land behavior: The role of environmental protection cognition and cross-border search” chỉ ra được su gia tăng dan số thé giới và những thay đổi đáng kê về khí hậu đã gây áp lực rất lớn lên đất sản xuất nông nghiệp. Công nghệ kỹ thuật số có tiềm năng giúp cải thiện vấn đề này, tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự quan tâm tương xứng từ cả giới học thuật và doanh nghiệp.
Từ góc nhìn dựa trên kiến thức, nghiên cứu này thiết lập khung lý thuyết dé xem xét ảnh hưởng của chuyền đổi kỹ thuật số đến hành vi ủng hộ đất đai, vai trò trung gian của nhận thức bảo vệ môi trường và vai trò điêu tiét của tìm kiêm xuyên biên giới. Dé kiêm tra mô 21 hình lý thuyết, các tác giả tiễn hành đánh giá thực nghiệm dựa trên dữ liệu khảo sát từ một số lượng lớn các công ty nông nghiệp Trung Quốc.