Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp với đề tài "Phân tích biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả nuôi tôm biển nông hộ tại tỉnh Bến Tre" do nghiên cứu sinh Võ Thái Hiệp thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thanh Hà, hoàn thành năm 2022 (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, mã số: 62.15).

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ bối cảnh biến đổi khí hậu đang tạo ra những rủi ro và áp lực gia tăng tính tổn thương đối với khu vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tổn thương nặng nề bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long và các dải ven biển là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp. Ngành nuôi tôm biển đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho cư dân ven biển, đưa Việt Nam vào nhóm năm quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi. Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết cực đoan như xâm nhập mặn, hạn hán, biến động nhiệt độ, bão và triều cường đã và đang đe dọa sinh kế nuôi tôm của nông hộ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả nhận diện là phần lớn các công trình trước đây chỉ đánh giá tính dễ bị tổn thương ở quy mô khu vực vĩ mô (vùng, tỉnh, huyện), hoặc phân tích rời rạc từng khía cạnh kỹ thuật, sinh kế riêng lẻ mà chưa xây dựng một bức tranh tổng thể ở quy mô nông hộ. Cụ thể, các nghiên cứu trước chưa kết hợp đánh giá mức độ tổn thương cấp hộ với việc phân tích hành vi lựa chọn các biện pháp thích ứng và lượng hóa tác động của những biện pháp này đến hiệu quả sản xuất kỹ thuật và kinh tế.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả nuôi tôm biển nông hộ tại tỉnh Bến Tre.

Hệ thống mục tiêu cụ thể gồm năm nội dung:

  1. Phân tích thực trạng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
  2. Đánh giá tính dễ bị tổn thương của hộ nuôi tôm biển do biến đổi khí hậu tại tỉnh Bến Tre.
  3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
  4. Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.
  5. Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả sản xuất cho các hộ nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm sáu câu hỏi:

  1. Tình hình thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Bến Tre như thế nào?
  2. Mức độ dễ bị tổn thương của hộ nuôi tôm do biến đổi khí hậu tại tỉnh Bến Tre là rất cao, cao, trung bình, thấp hay rất thấp?
  3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu của hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre?
  4. Mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của các hộ nuôi tôm trong bối cảnh biến đổi khí hậu đạt được là bao nhiêu?
  5. Hiệu quả của những biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu mà hộ nuôi tôm tại tỉnh Bến Tre đang được áp dụng ra sao?
  6. Để nâng cao khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và hiệu quả sản xuất của hộ nuôi tôm tỉnh Bến Tre, những giải pháp, chính sách nào cần thực thi?

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tính dễ bị tổn thương, biện pháp thích ứng và hiệu quả sản xuất của nông hộ nuôi tôm. Đối tượng khảo sát thực tế là các hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) và tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC). Luận án không khảo sát các cơ sở nuôi tôm quy mô trang trại, doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh con giống, thức ăn, vật tư hoặc các cơ sở sơ chế, thu mua và thị trường tiêu thụ.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Bến Tre, tập trung khảo sát chuyên sâu tại ba huyện ven biển trọng điểm là Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp về diễn biến khí hậu, thời tiết được thu thập trong giai đoạn 1980 - 2017; số liệu kinh tế - xã hội và sản xuất tôm biển thu thập từ năm 2012 đến năm 2017. Số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trực tiếp từ các nông hộ trong năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng tiếp cận chính:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Các công trình của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2010), IPCC (2007), Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE, 2008, 2012, 2016), Dasgupta và cộng sự (2007), Nguyễn Mậu Dũng (2010) đã chỉ ra mức độ tổn thương của Việt Nam và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Về nuôi trồng thủy sản, Alison và cộng sự (2009) xếp thủy sản Việt Nam đứng thứ 27 trên 132 quốc gia về tính dễ bị tổn thương trước khí hậu. Các nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (2015), Kam và cộng sự (2010), Phan Sĩ Mẫn và Hà Ngọc Huy (2013), Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012) phân tích các thiệt hại kinh tế do suy giảm năng suất và dịch bệnh. Tại Bến Tre, Nguyễn Trọng Hoài và Nguyễn Văn Hiếu (2013), Nguyễn Thị Kim Anh và cộng sự (2013), Lê Anh Tuấn và cộng sự (2012), Lê Thị Kim Thoa (2013) nhận định nuôi tôm biển có rủi ro từ trung bình đến cao nhưng năng lực thích ứng của nông hộ còn ở mức trung bình thấp.

Thứ hai, hướng nghiên cứu về nguồn lực sinh kế và tính dễ bị tổn thương. Lý thuyết sinh kế bền vững được tác giả kế thừa từ Chambers và Conway (1992) cùng khung năm nguồn lực của DFID (2001) gồm tự nhiên, vật chất, xã hội, con người và tài chính. Về phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương, tác giả điểm lại phương pháp đánh giá có sự tham gia PVA (Chiwaka và Yates, 2005; Care, 2009; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, 2010); phương pháp chỉ số tổn thương sinh kế LVI (Hahn và cộng sự, 2009; Lamichhane, 2010; Derick và cộng sự, 2017; Lê Thị Diệu Hiền, 2014; Nguyễn Quốc Nghi, 2016; Nguyễn Ngọc Trực, 2017); cách tiếp cận của IPCC dựa trên phơi lộ, nhạy cảm và khả năng thích ứng (Deressa và cộng sự, 2008; Yusuf và Francisco, 2009; O'Brien và cộng sự, 2004; Hà Hải Dương, 2014; Cấn Thu Văn, 2015; Trần Duy Hiền, 2016; Dương Hồng Giang, 2017; Nguyễn Viết Thành và cộng sự, 2017) và các phương pháp khác của Villagran de Leon (2006), Alexander Fekete (2009), Ibidun (2010), Birkmann (2013).

Thứ ba, hướng nghiên cứu về các biện pháp thích ứng và quyết định lựa chọn thích ứng. Luận án tổng hợp các phân loại thích ứng tự phát và có kế hoạch (Nguyễn Mậu Dũng, 2010), thích ứng thứ nhất và thứ hai (Birkmann, 2011), thích ứng cá nhân và công cộng (Mendelsohn, 2012). Tác giả tổng hợp các biện pháp thích ứng trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản từ Adger và cộng sự (2003), Bradshaw và cộng sự (2004), Akinnagbe và Irohibe (2014), Muralidhar và cộng sự (2012), Dinh và Nguyen (2014), Phạm Thị Sến và cộng sự (2017). Khung lý thuyết quyết định thích ứng dựa trên thuyết tối đa hóa hữu dụng ngẫu nhiên (Gbetibouo, 2009; Deressa và cộng sự, 2008; Denkyirah và cộng sự, 2017). Các yếu tố ảnh hưởng gồm đặc điểm chủ hộ, nhân khẩu, nguồn lực đất đai, tài chính, khuyến nông, mạng lưới xã hội và nhận thức thời tiết (Maddison, 2006; Komba và Muchapondwa, 2012; Bryan và cộng sự, 2013; Balew và cộng sự, 2014; Jared và cộng sự, 2020).

Thứ tư, hướng nghiên cứu về hiệu quả sản xuất dưới tác động của biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu của Makki và cộng sự (2012), Nagothu và cộng sự (2012), Cao Lệ Quyên và cộng sự (2015), Tasnim và cộng sự (2015), Trần Đại Nghĩa (2015) ghi nhận biến đổi khí hậu làm giảm hiệu quả sản xuất. Tác giả đối chiếu hai phương pháp đo lường biên là phân tích màng bao dữ liệu (DEA) và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình tính toán chỉ số tổn thương chỉ dừng lại ở phạm vi hành chính vùng hoặc tỉnh, thiếu vắng bộ chỉ số đo lường chi tiết ở cấp nông hộ cho đối tượng nuôi trồng thủy sản cụ thể. Đồng thời, các nghiên cứu kinh tế lượng thường xét riêng rẽ quyết định thích ứng hoặc phân tích hiệu quả sản xuất bằng hàm sản xuất thông thường. Luận án đã giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng bộ chỉ số tổn thương nông hộ (SFVI) dựa trên khung IPCC, sử dụng mô hình Multivariate Probit để đánh giá quan hệ tương hỗ giữa các biện pháp thích ứng, và áp dụng mô hình biên ngẫu nhiên SFA Cobb-Douglas để lượng hóa tác động đồng thời của tính tổn thương và các biện pháp thích ứng lên hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết và phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính:

  1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
  • Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của IPCC (2007): Tính dễ bị tổn thương (V) là hàm số của ba thành phần: Mức độ phơi lộ (E), Mức độ nhạy cảm (S) và Khả năng thích ứng (AC), biểu diễn theo công thức $V = f(E, S, AC)$ hoặc thông qua tác động tiềm tàng (PI) kết hợp khả năng thích ứng $V = f(PI, AC)$.
  • Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) với năm nguồn vốn sinh kế: con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội.
  • Thuyết tối đa hóa hữu dụng ngẫu nhiên: Nông hộ quyết định áp dụng biện pháp thích ứng $j$ thay vì biện pháp $k$ khi mức hữu dụng kỳ vọng của biện pháp $j$ lớn hơn biện pháp $k$, tức $E(U_{ij}) > E(U_{ik})$. Xác suất lựa chọn được mô hình hóa qua phân phối xác suất tích lũy.
  • Lý thuyết hiệu quả sản xuất của Farrell (1957) phân tách hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE).
  1. Nguồn dữ liệu và chọn mẫu:
  • Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu chuỗi thời gian khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa, thiên tai) giai đoạn 1980 - 2017 và dữ liệu thống kê diện tích, sản lượng tôm giai đoạn 2012 - 2017 do Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cung cấp.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp 262 nông hộ nuôi tôm trong năm 2018 bằng bảng câu hỏi soạn sẵn tại ba huyện ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú thuộc sáu xã đại diện: Tân Xuân, Bảo Thạnh, Định Trung, Thạnh Phước, An Điền, Giao Thạnh. Mẫu điều tra gồm 92 hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) và 170 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC).
  1. Phương pháp phân tích thực nghiệm:
  • Thống kê mô tả và hạch toán tài chính: Phân tích doanh thu, chi phí trung gian, chi phí cố định, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí của từng mô hình nuôi.
  • Phương pháp xây dựng và tính toán chỉ số tổn thương nông hộ (SFVI): Xây dựng bộ chỉ số gồm 3 chỉ số chính, 13 chỉ số phụ và 42 biến số. Áp dụng kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu min-max theo công thức của Hahn và cộng sự (2009): $$Index_{Sr} = \frac{S_r - S_{min}}{S_{max} - S_{min}}$$ Sau đó tính trung bình các biến số để xác định giá trị chỉ số phụ, áp dụng trọng số thành phần để tính toán chỉ số chính và chỉ số tổn thương tổng hợp cho từng nông hộ.
  • Mô hình hồi quy Multivariate Probit (MVP): Sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng đồng thời bốn nhóm biện pháp thích ứng, kiểm định hệ số tương quan giữa các phần dư ($\rho_{jk}$) nhằm xác định tính chất bổ sung ($\rho > 0$) hoặc thay thế ($\rho < 0$) giữa các biện pháp.
  • Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA): Vận dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas, ước lượng bằng phương pháp một bước (one-step estimation). Mô hình tích hợp phương trình phi hiệu quả kỹ thuật (ITE) và phi hiệu quả kinh tế (IEE), trong đó các biến giải thích bao gồm chỉ số tổn thương do biến đổi khí hậu (SFVI), các biến giả đại diện cho bốn nhóm biện pháp thích ứng cùng các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu, sinh kế và hiệu quả sản xuất. Biến đổi khí hậu theo định nghĩa của IPCC (2007) là sự biến đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ, trong đó 90% nguyên nhân bắt nguồn từ hoạt động phát thải khí nhà kính của con người. Tác giả tổng kết các biểu hiện thời tiết cực đoan tại Việt Nam và phân tích các tổn thất đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi dự báo có tới 38,9% diện tích có nguy cơ bị ngập nếu nước biển dâng 1 mét.

Chương này phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa năm nguồn vốn sinh kế và rủi ro khí hậu. Bối cảnh tự nhiên, vật chất, con người, tài chính và xã hội xác định trạng thái dễ bị tổn thương của người nuôi tôm. Tác giả luận giải khung phân tích tổn thương của IPCC gồm ba trục: phơi lộ (tiếp xúc ngoại cảnh), nhạy cảm (phản ứng nội tại) và năng lực thích ứng (khả năng điều chỉnh). Bên cạnh đó, chương 1 phân tích khung lý thuyết kinh tế lượng: mô hình lựa chọn nhị thức (Binary Logit/Probit), lựa chọn đa thức (Multinomial Logit) và chỉ ra hạn chế của chúng khi các quyết định không loại trừ lẫn nhau, từ đó thiết lập căn cứ cho việc sử dụng mô hình Multivariate Probit. Về hiệu quả sản xuất, tác giả đối chiếu phương pháp phi tham số DEA và phương pháp tham số SFA, khẳng định tính phù hợp của hàm biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas trong việc kiểm soát sai số ngẫu nhiên do thời tiết và dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Cuối chương là phần tổng quan điều kiện tự nhiên, diễn biến khí tượng thủy văn và thực trạng phát triển nuôi tôm nước lợ tại ba huyện ven biển tỉnh Bến Tre.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, khung phân tích và các công cụ xử lý số liệu. Tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu logic gồm thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, kiểm định làm sạch thông tin, mã hóa dữ liệu và thực hiện các mô hình ước lượng. Về mẫu điều tra, phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được áp dụng để phỏng vấn 262 nông hộ tại ba huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú (chi tiết cơ cấu: 92 hộ TSQCCT và 170 hộ TTCTTC).

Nội dung trọng tâm của chương 2 là thiết kế bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương nông hộ (SFVI) gồm 3 chỉ số chính, 13 chỉ số phụ và 42 biến số cụ thể:

  • Thành phần Phơi lộ (E): Gồm các biến số đo lường tần suất và mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, hạn hán kéo dài, nắng nóng, mưa trái mùa, xâm nhập mặn, sạt lở bờ ao) và khoảng cách từ ao nuôi đến biển/sông chính.
  • Thành phần Nhạy cảm (S): Gồm các biến phản ánh tỷ lệ phụ thuộc kinh tế vào nuôi tôm, diện tích ao nuôi, chất lượng nguồn nước lấy vào ao, tỷ lệ tôm bị nhiễm bệnh và mức độ sụt giảm sản lượng do thiên tai.
  • Thành phần Khả năng thích ứng (AC): Gồm trình độ học vấn chủ hộ, số năm kinh nghiệm nuôi tôm, số lao động gia đình, thu nhập bình quân, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, trang thiết bị phục vụ sản xuất (máy bơm, quạt nước, ao lắng), việc tham gia các tổ chức hội đoàn và tiếp cận thông tin tập huấn khuyến nông.

Chương này cũng thiết lập phương trình hồi quy Multivariate Probit bốn phương trình ứng với bốn quyết định thích ứng: điều chỉnh lịch thời vụ ($Y_1$), điều chỉnh kỹ thuật ($Y_2$), đa dạng hóa sản xuất ($Y_3$) và phòng ngừa rủi ro ($Y_4$). Cuối cùng, tác giả thiết lập đặc tả toán học cho hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas dạng hàm logarit kép: $$\ln(Y_i) = \beta_0 + \sum \beta_k \ln(X_{ki}) + v_i - u_i$$ và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên chuẩn hóa: $$\ln(\pi_i / P) = \alpha_0 + \sum \alpha_j \ln(W_{ji} / P) + v_i' - u_i'$$ đồng thời tích hợp mô hình phi hiệu quả kỹ thuật ($u_i$) và phi hiệu quả kinh tế ($u_i'$) chứa biến chỉ số tổn thương và các biến thích ứng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 công bố toàn bộ phát hiện thực nghiệm của đề tài qua các nội dung chính:

  1. Thực trạng nhận thức và nguồn lực sinh kế: Đa số nông hộ nhận thức rõ sự gia tăng của nhiệt độ, hạn hán và xâm nhập mặn. Đánh giá năm nguồn lực sinh kế cho thấy hạn chế lớn nhất của hộ nuôi tôm nằm ở nguồn lực tài chính (thiếu vốn đầu tư dài hạn) và nguồn lực vật chất (hệ thống cấp thoát nước, ao lắng chưa hoàn chỉnh). Nông hộ đã áp dụng 14 biện pháp thích ứng thuộc 4 nhóm chính:
  • Điều chỉnh lịch thời vụ: né tránh tháng nắng nóng gay gắt hoặc mặn xâm nhập cao, dời thời điểm thả giống.
  • Điều chỉnh kỹ thuật: nâng cao mực nước ao nuôi, sục khí quạt nước, sử dụng chế phẩm sinh học, cải tạo đáy ao kỹ hơn.
  • Đa dạng hóa sản xuất: nuôi kết hợp tôm - cua, nuôi tôm xen rừng ngập mặn, nuôi luân canh tôm - lúa hoặc kết hợp trồng trọt phụ.
  • Phòng ngừa rủi ro: gia cố bờ ao chống sạt lở, kiểm tra xét nghiệm con giống trước khi thả, mua bảo hiểm hoặc lập quỹ dự phòng rủi ro.
  1. Đánh giá tính dễ bị tổn thương (SFVI): Giá trị chỉ số tổn thương bình quân của mô hình tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) là 0,52 và mô hình tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) là 0,54. Phần lớn nông hộ ở cả hai mô hình phân bố ở mức tổn thương từ trung bình đến cao.

  2. Ước lượng mô hình Multivariate Probit:

  • Mối quan hệ tương quan: Tồn tại mối quan hệ bổ sung có ý nghĩa thống kê giữa biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ và biện pháp điều chỉnh kỹ thuật ($\rho > 0$). Ngược lại, quan hệ thay thế ($\rho < 0$) xuất hiện giữa điều chỉnh lịch thời vụ và phòng ngừa rủi ro; giữa điều chỉnh kỹ thuật và đa dạng hóa sản xuất; giữa đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa rủi ro.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Chủ hộ có học vấn cao hơn, có tham gia tập huấn khuyến nông, tiếp cận nhiều nguồn thông tin biến đổi khí hậu và có điều kiện tài chính tốt hơn thì xác suất áp dụng các biện pháp thích ứng cao hơn. Hộ có chỉ số phơi lộ tổn thương càng cao thì năng lực thực hiện các biện pháp thích ứng càng suy giảm.
  1. Kết quả tài chính và hiệu quả sản xuất: Bảng dưới đây tổng hợp các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE) của hai mô hình nuôi tôm:
Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật Mô hình TSQCCT Mô hình TTCTTC
Lợi nhuận bình quân 58,24 triệu đồng/ha/năm 535,67 triệu đồng/ha/vụ
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 3,60 lần 0,85 lần
Hiệu quả kỹ thuật trung bình (TE) 57,38% 59,04%
Hiệu quả kinh tế trung bình (EE) 70,51% 30,94%

Mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của các hộ khảo sát chưa cao so với các nghiên cứu trước đây do nghiên cứu này đưa tác động của biến đổi khí hậu vào phân tích.

  1. Ảnh hưởng của tính tổn thương và các biện pháp thích ứng đến hiệu quả:
Biến số tác động Hiệu quả kỹ thuật (TE) - TSQCCT Hiệu quả kinh tế (EE) - TSQCCT Hiệu quả kỹ thuật (TE) - TTCTTC Hiệu quả kinh tế (EE) - TTCTTC
Chỉ số tổn thương BĐKH tăng 1% Giảm 0,039% Giảm 0,108% Giảm 0,043% Giảm 0,072%
Áp dụng Điều chỉnh lịch thời vụ Tăng 0,456% Tăng 1,758% Tăng 0,494% Không có ý nghĩa
Áp dụng Điều chỉnh kỹ thuật Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Tăng 0,565% Tăng 0,550%
Áp dụng Đa dạng hóa sản xuất Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Giảm 0,277%
Áp dụng Phòng ngừa rủi ro Tăng 0,288% Không có ý nghĩa Tăng 0,329% Tăng 0,349%

Bên cạnh đó, trình độ học vấn, quy mô diện tích nuôi, việc tiếp cận dịch vụ khuyến nông và số lượng nguồn thông tin thời tiết tiếp cận được là những biến kiểm soát có tác động cùng chiều làm tăng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của nông hộ.

Cuối chương 3, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp gồm: nhóm giải pháp nâng cao khả năng thích ứng (nâng cao nhận thức, hỗ trợ nguồn vốn tài chính, phát triển vốn xã hội thông qua tổ hợp tác, hoàn thiện cảnh báo rủi ro thiên tai) và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất (chuyển giao quy trình kỹ thuật thích ứng, kiểm soát chi phí con giống và thức ăn).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đóng góp vào cơ sở lý luận và thực tiễn qua các kết quả cụ thể:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Luận án đã đề xuất và vận dụng thành công bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương ở cấp độ nông hộ (SFVI) dựa trên khung lý thuyết của IPCC gồm 3 chỉ số chính, 13 chỉ số phụ và 42 biến số thành phần. Phương pháp chuẩn hóa và quy trình tính toán chỉ số này có thể nhân rộng để đánh giá tổn thương cho các mô hình nuôi trồng thủy sản khác có điều kiện tương đồng.
  • Luận án chứng minh thực nghiệm sự tồn tại của tính bổ sung và thay thế lẫn nhau giữa các nhóm biện pháp thích ứng thông qua mô hình Multivariate Probit, chỉ ra rằng nông hộ không đưa ra quyết định thích ứng một cách đơn lẻ mà lựa chọn phối hợp đồng thời nhiều giải pháp.
  • Luận án đóng góp vào phương pháp luận kinh tế học sản xuất bằng cách tích hợp trực tiếp chỉ số tổn thương do biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng vào phương trình phi hiệu quả của mô hình phân tích biên ngẫu nhiên SFA Cobb-Douglas theo phương pháp ước lượng một bước.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về hiện trạng kinh tế - kỹ thuật, 14 biện pháp thích ứng và mức độ dễ bị tổn thương của 262 nông hộ nuôi tôm tại ba huyện ven biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre (chỉ số bình quân 0,52 ở mô hình TSQCCT và 0,54 ở mô hình TTCTTC).
  • Đo lường định lượng mức độ sụt giảm hiệu quả khi chỉ số tổn thương gia tăng và lượng hóa mức độ cải thiện hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế khi nông hộ áp dụng từng nhóm biện pháp thích ứng cụ thể.
  1. Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ tác giả:
  • Đối với nông hộ: Cần chủ động tuân thủ lịch thời vụ khuyến cáo của ngành nông nghiệp, áp dụng các kỹ thuật cải tạo ao nuôi và quản lý nước thích ứng, hạn chế tự phát đa dạng hóa sản xuất thiếu quy hoạch ở mô hình thâm canh để tránh làm suy giảm hiệu quả kinh tế.
  • Đối với chính quyền địa phương và ngành chuyên môn: Hoàn thiện quy hoạch vùng nuôi tôm nước lợ thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cấp hạ tầng thủy lợi cấp - thoát nước tách biệt tại các vùng ven biển; tăng cường tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông sát với bối cảnh thời tiết cực đoan; mở rộng các kênh cung cấp thông tin dự báo khí tượng thủy văn kịp thời; tạo điều kiện cho nông hộ tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi phục vụ gia cố hạ tầng ao nuôi và đầu tư thiết bị phòng ngừa rủi ro.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi không gian và đối tượng khảo sát: Nghiên cứu mới chỉ tập trung khảo sát 262 hộ tại ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre trên hai hình thức nuôi là tôm sú quảng canh cải tiến và tôm thẻ chân trắng thâm canh; chưa khảo sát các mô hình nuôi công nghệ cao, trang trại quy mô lớn hoặc doanh nghiệp nuôi tôm công nghiệp.
  • Về phạm vi chuỗi giá trị: Luận án chỉ giới hạn ở khâu nuôi trồng tại nông hộ, chưa mở rộng phân tích các tác nhân khác trong chuỗi giá trị tôm biển như cơ sở sản xuất kinh doanh con giống, đại lý thức ăn - thuốc thú y thủy sản, cơ sở thu mua, nhà máy chế biến và hệ thống phân phối thị trường.
  • Về dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp là số liệu chéo (cross-sectional data) thu thập trong một thời điểm (năm 2018), chưa theo dõi được biến động dài hạn theo dạng dữ liệu bảng (panel data) để đánh giá sự thay đổi liên tục của tính tổn thương qua các năm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tỉnh ven biển khác của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khảo sát thêm các đối tượng nuôi thủy sản nước lợ khác.
  • Triển khai thu thập dữ liệu bảng qua nhiều năm nhằm theo dõi sự thay đổi động thái trong hành vi thích ứng và hiệu quả sản xuất của nông hộ trước diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu.
  • Nghiên cứu tích hợp toàn diện tác động của biến đổi khí hậu dọc theo toàn bộ chuỗi giá trị ngành hàng tôm biển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Quản lý thủy sản: Luận án cung cấp khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết IPCC, mô hình hồi quy Multivariate Probit và mô hình phân tích biên ngẫu nhiên SFA. Chương 2 và phần phụ lục phương pháp luận là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật thiết kế bộ chỉ số đánh giá cấp hộ và phương pháp ước lượng kinh tế lượng một bước.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản tỉnh Bến Tre và các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long): Các kết quả định lượng về chỉ số tổn thương và hiệu quả của 14 biện pháp thích ứng cung cấp căn cứ thực chứng để xây dựng lịch thời vụ, quy hoạch hạ tầng vùng nuôi tôm và ban hành các chính sách hỗ trợ tín dụng, khuyến nông thích ứng khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Chỉ số dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (SFVI) của hộ nuôi tôm tại Bến Tre đạt mức bao nhiêu và phân loại ra sao? Theo kết quả nghiên cứu, chỉ số tổn thương trung bình của hộ nuôi tôm sú quảng canh cải tiến (TSQCCT) là 0,52 và hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh (TTCTTC) là 0,54. Phần lớn các hộ nuôi tôm tại ba huyện khảo sát đều có chỉ số tổn thương phân bố từ mức trung bình đến mức cao.

  2. Mười bốn biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của nông hộ được phân loại thành những nhóm nào? Luận án nhận diện 14 biện pháp và phân thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm điều chỉnh lịch thời vụ (thay đổi thời điểm thả giống, né tránh các tháng cực đoan); (2) Nhóm điều chỉnh kỹ thuật (tăng mực nước ao, tăng cường sục khí, sử dụng chế phẩm sinh học); (3) Nhóm đa dạng hóa sản xuất (nuôi xen tôm - cua, nuôi tôm - rừng, luân canh); (4) Nhóm phòng ngừa rủi ro (kiểm tra con giống, gia cố bờ ao, lập quỹ dự phòng rủi ro).

  3. Mô hình Multivariate Probit chỉ ra mối quan hệ tương hỗ nào giữa các biện pháp thích ứng? Ước lượng MVP cho thấy quan hệ bổ sung cho nhau giữa điều chỉnh lịch thời vụ và điều chỉnh kỹ thuật. Các mối quan hệ có tính chất thay thế cho nhau gồm: giữa điều chỉnh lịch thời vụ và phòng ngừa rủi ro; giữa điều chỉnh kỹ thuật và đa dạng hóa sản xuất; giữa đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa rủi ro.

  4. Hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kinh tế (EE) của hai mô hình nuôi tôm đạt mức nào và biến đổi khí hậu ảnh hưởng ra sao? Hiệu quả kỹ thuật trung bình của mô hình TSQCCT là 57,38% và mô hình TTCTTC là 59,04%. Hiệu quả kinh tế trung bình của mô hình TSQCCT là 70,51% và mô hình TTCTTC là 30,94%. Khi chỉ số tổn thương biến đổi khí hậu tăng 1%, hiệu quả kỹ thuật của hộ TSQCCT và TTCTTC giảm lần lượt là 0,039% và 0,043%; hiệu quả kinh tế của hai nhóm hộ tương ứng giảm 0,108% và 0,072%.

  5. Việc áp dụng các biện pháp thích ứng tác động cụ thể như thế nào đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế? Theo mô hình SFA, biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ làm tăng hiệu quả kỹ thuật của mô hình TSQCCT lên 0,456% và TTCTTC lên 0,494%, đồng thời làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TSQCCT lên 1,758%. Biện pháp điều chỉnh kỹ thuật giúp tăng hiệu quả kỹ thuật lên 0,565% và hiệu quả kinh tế lên 0,550% ở mô hình TTCTTC. Biện pháp phòng ngừa rủi ro giúp tăng hiệu quả kỹ thuật của cả hai mô hình (TSQCCT tăng 0,288%, TTCTTC tăng 0,329%) và làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC lên 0,349%. Riêng biện pháp đa dạng hóa sản xuất làm giảm hiệu quả kinh tế của mô hình TTCTTC xuống 0,277%.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Võ Thái Hiệp đã phân tích có hệ thống thực trạng tổn thương, các biện pháp thích ứng và hiệu quả sản xuất của 262 nông hộ nuôi tôm biển tại ba huyện ven biển tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu đã xây dựng thành công bộ chỉ số tổn thương nông hộ (SFVI) gồm 42 biến số theo khung lý thuyết IPCC và ứng dụng mô hình Multivariate Probit để làm rõ mối quan hệ bổ sung hoặc thay thế giữa bốn nhóm biện pháp thích ứng. Bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA dạng Cobb-Douglas ước lượng một bước, luận án đã lượng hóa tác động tiêu cực của tính tổn thương khí hậu và đo lường mức độ cải thiện hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kinh tế từ các biện pháp thích ứng cụ thể. Các kết luận khoa học và hệ thống giải pháp trong luận án cung cấp căn cứ thực chứng quan trọng phục vụ công tác quy hoạch phát triển và quản lý rủi ro ngành nuôi tôm biển tại tỉnh Bến Tre trong bối cảnh biến đổi khí hậu.