Lời mở đầu, còn có 4 phần như sau: - Phần 2: Tổng quan về nền tảng lý thuyết phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng. - Phần 3: Mô tả phương pháp nghiên cứu. - Phần 4: Thực trạng phân tích Báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội và đề xuất một số giải pháp. - Phần 5: Kết luận chung.
TỔNG QUAN VỀ NỀN TẢNG LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Những vấn đề cơ bản về phân tích Báo cáo tài chính Khách hàng doanh nghiệp tại NHTM. Tổng quan về phân tích BCTC KHDN tại NHTM. Khái niệm phân tích BCTC KHDN.
Phân tích BCTC KHDN là việc sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ phục vụ cho việc xử lý các thông tin kế toán, những thông tin về quản lý, thị trường, … nhằm đánh giá toàn diện về thực trạng tài chính của một doanh nghiệp, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động, đánh giá rủi ro, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp trong tương lai giúp Ngân hàng đưa ra các quyết định tín dụng đối với doanh nghiệp đó. Mục tiêu phân tích BCTC KHDN đối với NHTM. Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng, điều kiện đảm bảo nguồn tài chính duy trì cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Việc đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, không chỉ với chính chủ doanh nghiệp mà còn với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, khách hàng, người cho vay.
Khi đánh giá đúng đắn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, các đối tượng trên có thể đưa ra những quyết định chính xác về khả năng tiếp cận với DN trên giác độ nhà đầu tư, người cho vay hay là đối tác của DN…. Công việc phân tích TCDN trước tiên là để nhận định “sức khỏe” của doanh nghiệp vay vốn để xác định hạn mức cho vay và khả năng trả nợ của người vay vốn, đặc biệt với các NHTM, khi giữ vai trò là người cho vay, việc hoàn trả gốc và lãi của DN đúng thời hạn là một yếu tố rất quan trọng, tác động trực tiếp tới khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời cũng như khả năng hoạt động của Ngân hàng. Những DN có hoạt động kinh doanh yếu kém hoặc hoạt động kinh doanh không có triển vọng cải thiện hay phát triển sẽ có rất ít cơ hội được tiếp cận với các khoản tín dụng ngân 5 hàng. Trong khi đó, một DN kinh doanh hiệu quả nhưng yếu kém trong công tác quản lý tài chính cũng có tác động xấu đối với việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn khoản tín dụng của NHTM, gây bất lợi cho ngân hàng.
Bởi vậy, vấn đề phân tích BCTC KHDN là bước tuy chỉ là một bước nhỏ nhưng rất quan trọng trong quy trình cấp tín dụng để xem xét việc xác lập quan hệ tín dụng giữa NHTM với KHDN, là một khâu xuyên suốt trong quá trình cấp tín dụng của NHTM, từ lúc phát sinh nhu cầu tín dụng từ phía khách hàng, qua quá trình phân tích tín dụng, cho vay đến tất toán một hợp đồng tín dụng, nhằm đảm bảo an toàn, sinh lợi và tránh tối đa rủi ro cho Ngân hàng thương mại. Yêu cầu đối với phân tích BCTC KHDN. - Tính chính xác, trung thực và hợp lý: Phân tích BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. - Tính kịp thời: Việc phân tích BCTC tại NHTM đòi hỏi phải cung cấp kịp thời đầy đủ về các thông tin tài chính về doanh nghiệp, đưa ra các nhận định về sức khỏe của doanh nghiệp, khả năng phát triển trong tương lai và đề xuất chính xác nhất các quyết định tín dụng cũng như điều kiện tín dụng cho doanh nghiệp.
- Tính cập nhật: Quy trình phân tích BCTC phải đảm bảo tính cập nhật các thông tin kinh tế, chính trị, xã hội. Nội dung phân tích BCTC KHDN tại NHTM. Phân tích BCTC KHDN là hoạt động hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh bên trong bên ngoài doanh nghiệp. Để có được những thông tin hữu ích cho việc đưa ra những quyết định tài chính, công tác phân tích BCTC cần được tổ chức một cách khoa học.
Phân tích chất lượng BCTC của KHDN. Để BCTC hữu ích cho các đối tượng sử dụng, chất lượng của thông tin trên BCTC cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau: 6 Tin cậy: Thông tin trên BCTC cần phải bảo đảm tính tin cậy. Để đáp ứng được yêu cầu này, thông tin trên BCTC phải là những thông tin khách quan và có thể thẩm định được. Thông tin trên BCTC mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý kiếm chủ quan của bất kì cá nhân nào do nó là kết quả của quá trình kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, căn cứ từ các chứng từ kế toán và tuân thủ theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành.
Hơn nữa, thông tin trên BCTC có thể được thẩm định để tìm kiếm các bằng chứng chứng minh cho tính đúng đắn của các số liệu trên BCTC. Bên cạnh đó, ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực, khách quan, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán sẽ nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC. Kịp thời: BCTC cần được cung cấp kịp thời để bảo đảm cho tính hữu ích của thông tin đối với các đối tượng sử dụng để đề ra quyết định. Nếu cung cấp thông tin BCTC chậm trễ cho các đối tượng sử dụng thì những thông tin đó dù có tính tin cậy rất cao cũng là vô nghĩa do các quyết định kinh doanh thường mang tính thời điểm.
Hơn nữa, nếu dựa vào các thông tin lạc hậu về tình hình tài chính của doanh nghiệp đề ra quyết định có thể dẫn đến các quyết định sai lầm. Theo quy định hiện hành, BCTC năm cần được công bố cho các đối tượng sử dụng chậm nhất là sau 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Ngoài ra các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán cần công bố BCTC quý chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý. So sánh được: Thông tin BCTC cần bảo đảm tính so sánh được.
Yêu cầu này đòi hỏi các khoản mục trên BCTC phải được trình bày nhất quán giữa các kì và nhất quán giữa các doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức. Để đảm bảo tính so sánh được của thông tin BCTC của các doanh nghiệp, số liệu sử dụng để lập BCTC của các doanh nghiệp phải được hình thành từ việc tuân thủ và áp dụng cùng một hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực và chế độ kế toán. Trong trường hợp có sự thay đổi giữa các kì về nội dung hoặc hình thức trình bày những thay đổi này cần được giải trình chi tiết trong thuyết minh BCTC hoặc trình bày lại BCTC của các kì trước nhằm cung cấp thông tin so sánh được giữa các kì với nhau. 7 Coi trọng bản chất hơn hình thức: Thông tin BCTC cần phản ảnh theo bản chất kinh tế, chứ không phản ánh theo hình thức pháp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Nhìn chung hầu hết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường có bản chất kinh tế phù hợp với hình thức pháp lí của chúng. Tuy nhiên có một số trường hợp đặc biệt khi bản chất kinh tế trái với hình thức pháp lí thì BCTC cần trình bày các thông tin đó theo bản chất kinh của nghiệp vụ. Trọng yếu: BCTC cần cung cấp những thông tin có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định của người sử dụng thông tin. Các thông tin trọng yếu này cần được trình bày riêng rẻ trên BCTC, còn các thông tin không trọng yếu có thể được tập hợp lại và trình bày chung trong một khoản mục.
Phù hợp: BCTC cần cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu của các đối tượng sử dụng, tức là cung cấp đúng thông tin mà các đối tượng sử dụng cần. Mỗi đối tượng sử dụng thông tin BCTC đều có thể tìm thấy các thông tin hữu ích, liên quan tới các quyết định kinh doanh của họ. Tính phù hợp và tính tin cậy của thông tin trên BCTC đôi khi mâu thuẫn với nhau trong những trường hợp này, các thông tin bổ sung cần được cung cấp trên thuyết minh BCTC để giúp các đối tượng sử dụng có thể đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các thông tin phục vụ phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin, thông tin từ nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài, từ những thông tin số lượng đến những thông tin chất lượng….
* Thông tin tài chính: Để có được nguồn thông tin tài chính, cần thu thập các kế hoạch tài chính chi tiết và tổng hợp, các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, các tài liệu kế toán chi tiết có liên quan. Hệ thống báo cáo: Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu 8 chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích tài chính doanh nghiệp.
BCTC cung cấp chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết giúp cho việc kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau: - Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một bộ phận của BCTC, chủ yếu phản ánh tổng quát tình trạng tài chính của DN tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm).