Chương 1: Từ thực (autosemantic word) Chương 2: Từ hư (syntactic word) Ch ng I TỪ THỰC I. DẪN NHẬP Ở cấp độ từ vựng, người ta thường phân loại từ tiếng Việt dựa vào tính chất nghĩa thực và nghĩa hư. Dựa vào tiêu chí này, người ta chia từ tiếng Việt thành ra 2 loại chính, thuộc về hai lớp từ chính trong tiếng Việt, đó là: thực từ và hư từ. Đầu tiên là lớp từ mang nghĩa thực, nghĩa từ vựng, mang tính định danh, tính gọi tên các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan lớp từ này được gọi là: từ thực.
Kế đến là lớp từ không gọi tên các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan mà mang nghĩa hư, nghĩa quan hệ, nghĩa ngữ pháp, mang tính phi định danh, khó nhận thấy hơn từ thực gọi là: từ hư. Từ thực là loại từ có chức năng đưa sự vật, hiện tượng, sự kiện của hiện thực ngoài ngôn ngữ đi vào ngôn ngữ, biến chúng thành các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ. Vì vậy, từ thực là lớp từ loại có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa khái quát chung của một lớp từ nhất định để định danh hay gọi tên, hoặc chỉ các tính chất, hoạt động, trạng thái, quá trình, đặc trưng, số lượng, thứ tự, hoặc những từ có chức năng trực tiếp chỉ vào người, vật, sự vật, hiện tượng. Từ thực là loại từ có số lượng lớn nhất trong vốn từ tiếng Việt.
Ví dụ như những từ tiếng Việt sau đây thuộc về từ thực: thanh niên, học sinh, giáo viên, tư tưởng, tình cảm, ăn, đi, chạy, đẹp, nhanh, xấu, một, năm, vài, dăm, thứ nhất, thứ hai, tôi, chúng tôi, mày, tao, nó, ai, sao, bao nhiêu, đâu, này, vậy, toàn bộ, cả, … II. KHÁI NIỆM TỪ THỰC Từ thực thuộc về đơn vị ngôn ngữ cơ bản có tính tổng thể hữu cơ, có tính toàn khối về hình thức. Về mặt nghĩa, nó có ý nghĩa thực hay ý nghĩa từ vựng được phản ánh theo lối gọi tên sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ, có tính trọn vẹn, thường chuyên biểu thị nhiều phân đoạn thực tế khách quan; là đơn vị có sẵn, cố định, bắt buộc (có tính chất xã hội, là cơ sở quan trọng nhất để con người có thể tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động giao tiếp. Nó bao gồm các đặc trưng về ngữ âm, thuộc tính nhất định về ngữ nghĩa (một từ ứng với nhiều nét nghĩa), về ngữ pháp (ứng với một khuôn từ loại), có thể tồn tại tách rời nhau và được tái hiện trong các lời nói khác nhau; nó là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt: chứa đựng trong lòng nó những đơn vị của các cấp độ dưới nó; nó là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống ngôn ngữ trên từ: độc lập về về ý nghĩa lẫn hình thức, tạo nên các đơn vị ngôn ngữ: cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản và là đơn vị nhỏ nhất trong phương diện lời nói trên từ: độc lập về về ý nghĩa lẫn hình thức, tạo nên các đơn vị lời nói: phát ngôn, ngôn đoạn, ngôn bản.
Có năm kiểu từ loại: danh từ; động từ; tính từ; số từ; đại từ được xem là những từ thực chân chính. Ví dụ như: nhà, cửa, chạy, bay, nhảy, ăn, đẹp, một, hai, đó, đây, tôi, mày…. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ THỰC 3. Từ thực là loại từ có tập hợp lớn nhất về số lượng trong vốn từ tiếng Việt Khẳng định rằng: từ thực là loại từ có tập hợp lớn nhất về số lượng trong vốn từ tiếng Việt là bởi vì: Từ thực bao gồm cả 5 kiểu từ loại: danh từ; động từ, tính từ, số từ, đại từ.
Mà trong đó, danh từ, động từ, tính từ là ba lớp từ cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất, thể hiện tương đối đầy đủ và rõ rệt nhất của từ tiếng Việt. Từ thực là lớp từ có đầy đủ các đặc điểm, ý nghĩa và chức năng sau: 3. Từ thực là loại từ có ý nghĩa khái quát hóa, ý nghĩa thực thể và ý nghĩa sự vật hóa Từ thực là loại từ có chức năng đưa sự vật, hiện tượng, sự kiện của hiện thực ngoài ngôn ngữ đi vào ngôn ngữ, biến chúng thành các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ. Vì vậy, từ thực là loại từ trong vốn từ tiếng Việt có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa khái quát hóa, ý nghĩa thực thể và ý nghĩa sự vật hóa của một lớp từ nhất định chỉ để định danh hay gọi tên sự vật, hiện tượng và định danh bản chất của chúng.
Ví dụ như: nhà, xe, đất, nước. Từ thực là loại từ có ý nghĩa khái quát hóa về quá trình vận động của thực thể Từ thực biểu thị ý nghĩa khái quát hóa về quá trình vận động của thực thể. Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động hay hoạt động của thực thể. Đây chính là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa thuộc mối liên hệ vận động của thực thể trong không gian và thời gian.
Ví dụ như: đi, chạy, trườn, ăn, uống, đứng. Từ thực là loại từ có ý nghĩa khái quát hóa về đặc trưng của thực thể Từ thực biểu thị ý nghĩa khái quát hóa về đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình. Ý nghĩa đặc trưng của thực thể hay quá trình thể hiện trực tiếp tính chất hay mức độ của thực thể. Ví dụ như: đẹp, xấu, nhanh, chậm.
Từ thực là loại từ có chức năng thay thế và chỉ trỏ vào thực thể Từ thực biểu thị chức năng thay thế và chỉ trỏ vào thực thể. Với chức năng này, từ thực dùng để thay thế và chỉ trỏ một cách gián tiếp.Vì vậy, từ thực loại này thường mang nội dung phản ánh vốn có của các thực từ trực tiếp biểu thị thực thể, quá trình, đặc trưng được chúng thay thế. Ví dụ như: này, đây, đó, bao nhiêu, vậy, hết thảy. Từ thực loại này chiếm số lượng từ ít nhưng có tần số sử dụng rất cao và có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ và trong giao tiếp.
Thực ra, đây không phải là loại thực từ đích thực. Nó có quan hệ mật thiết, gần gũi với các lớp thực từ cơ bản như danh từ, động từ, tính từ. Đồng thời, nó cũng không có quan hệ trực tiếp với thực tại. Vì vậy, có thể khẳng định nó là thực từ vì nó phản ánh mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy với thực tại một cách gián tiếp.
Mặt khác, nó cũng không phải là từ hư vì từ hư phản ánh mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy. Từ thực là loại từ chỉ số lượng của thực thể Từ thực biểu thị số cụ thể, xác định: số đếm và số thứ tự của thực thể. Ý nghĩa chỉ số cụ thể, xác định là đặc tính quan trọng của từ thực. Ví dụ như: một, hai, ba, vài, dăm, nhất, nhì.
ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁC THÀNH PHẦN Ý NGHĨA CỦA TỪ THỰC Đặc điểm của từ thực là nghĩa của chúng không những do tính chất, hoạt động, trạng thái, quá trình, đặc trưng, số lượng… của sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ, cũng như các hiểu biết về các sự vật đó biểu thị mà nghĩa của từ thực còn do quan hệ giữa từ với từ trong ngôn ngữ quyết định. Nói cách khác, nghĩa của các từ định danh, từ thực là sự vật và những hiểu biết về chúng đã bị quy định bởi quá trình ngôn ngữ hóa và cấu trúc hóa của ngôn ngữ. Cấu trúc ngữ nghĩa của từ theo chúng tôi không phải là trật tự các nét nghĩa trong hệ thống ngữ nghĩa của một từ mà cấu trúc ý nghĩa của từ là các thành phần ý nghĩa được hình thành theo một cơ cấu mang tính tương đối. Như vậy, nghĩa của từ không phải là một khối không phân hóa, phân lập, mà nó là một hợp thể, phức thể bao gồm một số thành phần ý nghĩa chính tương ứng với tam giác quan hệ ngữ nghĩa.
Sở dĩ chúng ta gọi là tam giác quan hệ ngữ nghĩa là bởi vì bản thân nó bao gồm các mối quan hệ đan xen giữa 3 đối tượng chính: người sử dụng ngôn ngữ; sự vật, hiện tượng; từ ngữ âm. Đó là các thành phần ý nghĩa sau đây: (1) Nghĩa sở chỉ hoặc nghĩa biểu vật (mối quan hệ chính giữa từ ngữ âm với sự vật, hiện tượng …). Có thể khẳng định rằng, nhân tố người sử dụng ngôn ngữ là nhân tố quyết định nhất cho việc kiến tạo các loại thành phần ý nghĩa của từ. Đúng như ý kiến của Croft (1993): “Ý nghĩa chỉ được kiến tạo trong điều kiện sử dụng các đơn vị ngôn ngữ mà thôi”; hoặc “nghĩa của từ chỉ được kiến tạo sau khi toàn bộ ý nghĩa của phát ngôn được xác định”; hoặc “ý nghĩa tổng thể của phát ngôn có vai trò xác định ý nghĩa ngữ cảnh của từ ngữ được sử dụng”.
Để dễ dàng hình dung các loại nghĩa này, ta có thể bắt đầu bằng ví dụ trong tiếng Việt sau: một người mẹ nói với đứa con hãy còn ít tuổi: “Con đến kệ lấy cho mẹ quyển sách”. Em bé ấy sẽ đi đến cái kệ sách (chứ không đi đến cái chạn, cái rương, cái tủ…) và em sẽ lấy quyển sách (chứ không lấy cây bút, cây thước, tờ báo…). Vì vậy, ta nói em bé ấy đã hiểu được nghĩa sở chỉ hoặc nghĩa biểu vật (hay quan hệ gọi tên giữa sự vật, hiện tượng với từ ngữ âm) kệ và quyển sách. Còn nghĩa sở biểu hoặc nghĩa biểu niệm của từ kệ (đồ dùng trong gia đình, có nhiều ngăn tầng, đóng bằng gỗ hoặc sắt…, sử dụng để chứa sách vở và các đồ dùng học tập…) thì em bé có thể chưa hiểu hết hoặc hiểu chưa được, hoặc hiểu chưa đầy đủ.
Như vậy, nghĩa sở chỉ hoặc nghĩa biểu vật của từ được người bản ngữ phân biệt và nhận biết từ rất sớm, là loại nghĩa mà trẻ em làm quen và tiếp xúc đầu tiên. Còn nghĩa sở biểu hoặc nghĩa biểu niệm của từ thì bắt buộc phải phát triển đến một độ tuổi nào đó, khi con người có ý thức, có khả năng phân biệt các thuộc tính (dấu hiệu) bản chất và không bản chất của sự vật, hiện tượng hoặc biết tách những thuộc tính bản chất ra khỏi những thuộc tính không bản chất trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan, có nghĩa là thoát ra được lối tư duy trực quan, tư duy cụ thể thì trong nhận thức mới dần hình thành các ý nghĩa biểu niệm của từ. Như vậy, cấu trúc ý nghĩa của từ bao gồm các thành phần sau đây.