Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU VÀ PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 1. Hợp đồng và hợp đồng vô hiệu 1.1 Khái niệm hợp đồng Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, trên cơ sở những nhu cầu mà con người phải thiết lập những quan hệ mua bán, trao đổi, thuê tài sản và dịch vụ. Những quan hệ này thường được thực hiện thông qua thoả thuận một cách tự nguyện với các quy tắc ứng xử theo lẽ công bằng và chính sự thoả thuận này đã ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ. Khi các hành vi, quy tắc ứng xử này được luật hoá trở thành những nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện thì các quan hệ về tài sản, dịch vụ.
trở thành những hình thức pháp lý rất phổ biến gọi là khế ước hay hợp đồng. Những hợp đồng không vi phạm các nguyên tắc luật định, không chống lại trật tự công thì trở thành luật đối với các bên – phát sinh nghĩa vụ pháp lý được đảm bảo cưỡng chế thi hành. Tính có hiệu lực pháp luật hoặc tính đảm bảo thi hành là yếu tố căn bản để phân biệt hợp đồng với những thoả thuận khác không phải là hợp đồng, để chứng minh rằng mặc dù hợp đồng là sự thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng và để giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật đối với các thoả thuận. Ví dụ: ông A và ông B thoả thuận mua bán chiếc xe máy; thoả thuận này không vi phạm nguyên tắc tự nguyện, tự do, không chống lại trật tự công; các bên giao kết có thẩm quyền; thoả thuận làm phát sinh nghĩa vụ giao xe của ông A và nghĩa vụ trả tiền của ông B, do vậy, thoả thuận này là hợp đồng.
Có nhiều thoả thuận không phải là hợp đồng vì không 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, không được pháp luật điều chỉnh, ví dụ: A và B thoả thuận chờ nhau ở cổng Đại học quốc gia Hà Nội để cùng vào học; ông A và ông B thoả thuận mua bán một một hành tinh. So với các nước phương Tây với hơn hai nghìn năm lịch sử phát triển về luật hợp đồng “dựa trên những giá trị của dân luật La Mã và các học thuyết về quyền cá nhân, luật hợp đồng phương Tây đã có hơn hai nghìn năm để phát triển các học thuyết về tính bắt buộc thực hiện của hợp đồng” [72, tr. 392] thì pháp luật hợp đồng của Việt Nam chưa có thứ hạng. Trước khi ban hành BLDS 2005, pháp luật thực định về hợp đồng và thực tiễn áp dụng vẫn chưa thực sự tiếp cận với thuyết về luật chung và luật riêng, hợp đồng dân sự và kinh tế được phân định một cách độc lập mặc dù giữa chúng không có một ranh giới rõ ràng.
BLDS 2005, chế định hợp đồng vẫn mang tên “hợp đồng dân sự” nhưng với phạm vi điều chỉnh hợp lý đã trở thành đạo luật gốc là nền tảng chung mang tính hệ thống điều chỉnh quan hệ hợp đồng, cụ thể, tại điều 1 quy định “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”. Như vậy, BLDS 2005 là luật chung cho tất cả mọi hợp đồng chuyên biệt và chế “định hợp đồng dân sự” có thể được đồng nhất là chế định hợp đồng. Về khái niệm hợp đồng, BLDS 2005 xác định như sau “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [điều 388]. BLDS Pháp quy định “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”.
Luật hợp đồng Trung Quốc, tại điều 2 xác định “hợp đồng là sự thoả 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuận làm xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể bình đẳng về địa vị bao gồm cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác”. Thoả thuận chỉ được thiết lập khi có ít nhất hai bên chủ thể tham gia; các bên chỉ có thể được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ khi thoả thuận đó có hiệu lực pháp luật, do đó, theo tác giả thì không cần thiết phải xác định số lượng tối thiểu chủ thể tham gia hợp đồng. Thông thường, một thoả thuận chỉ có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: - Các bên có thẩm quyền giao kết - đối với cá nhân thẩm quyền được cấu thành từ năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chính cá nhân; đối tổ chức, pháp nhân thẩm quyền được xác định theo điều kiện kinh doanh, phạm vi kinh doanh. - Có sự thống nhất ý chí giữa các bên.
Sự thống nhất ý chí chỉ được xác nhận khi hành vi tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí được các bên thực hiện một cách hoàn toàn tự nguyện; và - Không chống lại trật tự công. Tự do trong quan hệ hợp đồng là tự do trong xã hội, nó chỉ có thể khi nó có liên hệ mật thiết với trách nhiệm, thái độ tôn trọng luật pháp và quyền của những người khác. Lợi ích của các bên chỉ được đảm bảo khi họ tôn trọng trật tự công. - Ngoài ra, tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia hay khu vực mà thoả thuận có thể còn phải đảm bảo điều kiện về hình thức.
Tiểu kết: Hợp đồng là sự thoả thuận có hiệu lực pháp luật hoặc làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý. Khái niệm hợp đồng vô hiệu Cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng vô hiệu mà chỉ nêu căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu hoặc có hiệu lực. Ví dụ i) Bộ Nguyên tắc UNIDROIT hợp đồng thương mại quốc tế 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 2004 quy định về hợp đồng vô hiệu từ điều 3.10, cụ thể, vô hiệu do nhầm lẫn, do lợi ích thái quá, do ép buộc.; ii) BLDS Pháp quy định “Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi thoả mãn bốn điều kiện chủ yếu sau đây: Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện; các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng; đối tượng của hợp đồng phải xác định; căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp” [điều 1108]; iii) BLDS 2005, điều 122 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: “1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”; iv) BLDS và Thương Mại Thái Lan quy định: “Một hành vi pháp lý bị vô hiệu nếu mục tiêu của nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được hoặc trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội” [điều 113]. Vậy, vô hiệu là gì và khi nào thì một hợp đồng bị coi là vô hiệu? Đây là vấn đề mà không trả lời thì không thể có được khái niệm về hợp đồng vô hiệu. Vô hiệu là gì? Theo ngôn ngữ phổ thông, vô hiệu là “không có hiệu lực” [76]; vô hiệu là “không hợp pháp, không thể được chấp nhận một cách chính thức” [77]. Chuyển sang ngôn ngữ pháp lý theo lối suy luận thông thường, vô hiệu là không có hiệu lực pháp luật.
Bởi lẽ, sự vô hiệu này được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật. BLDS 2005, xác định giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương và tại điều 137 khoản 1 quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”. Như vậy, một thoả thuận mặc dù đã được giao 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết, nhưng bị vô hiệu thì không có tính bắt buộc đối với các bên tham gia, các thoả thuận mà các bên đã ràng buộc nhau, các quyền và nghĩa vụ ghi nhận không thể được công nhận và cho thi hành. Khi nào thì một thoả thuận bị vô hiệu? Một thoả thuận được thiết lập bởi hành vi của các chủ thể hoặc người đại diện của các chủ thể và bản chất của sự thoả thuận là tự nguyện, bình đẳng.
Để xác định tính hiệu lực của thoả thuận thì không thể không xem xét toàn bộ các yếu tố cấu thành nên thoả thuận theo những căn cứ pháp lý nhất định, vì hiệu lực của thoả thuận luôn mang tính hiệu lực pháp luật, là luật được cưỡng chế thi hành đối với các bên. Và việc xem xét tính hiệu lực của thoả thuận được đặt ra tại thời điểm giao kết, bởi lẽ các bên thiết lập thoả thuận bằng chính hành vi của mình, việc xác định tính hợp pháp của hành vi phải được xác định tại thời điểm hành vi đó được thực hiện. Theo đó, khi một thoả thuận được xác định là vô hiệu thì thời điểm vô hiệu đương nhiên cũng được xác định từ khi giao kết. Đây là đặc điểm căn bản có tính chất quyết định để phân biệt thoả thuận vô hiệu và thoả thuận mất hiệu lực.
Đó là những thoả thuận có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết nhưng bị mất hiệu lực theo luật định trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ: Hai bên giao kết hợp đồng mua bán Pháo nổ; tại thời điểm giao kết nội dung của hợp đồng hoàn toàn hợp pháp, nhưng trong thời hạn một bên chuẩn bị hàng, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định về việc cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo. Sự kiện pháp lý này làm hợp đồng mua bán Pháo giữa hai bên bị mất hiệu lực.