Đặt vấn đề Khoa học đã phát hiện rằng một số loài vật như thằn lằn, sao biển có thể tái tạo các bộ phận đã mất trên cơ thể chúng. Con người chúng ta cũng có chung những đặc điểm này. Mặc dù cơ thể chúng ta không thể tái tạo cả một bộ phận trên cơ thể nhưng tế bào máu, tế bào da vẫn thường xuyên được tái sinh trong mỗi chúng ta nhờ những tế bào “toàn năng”, lần đầu tiên được phát hiện trong quá trình tiến hành thí nghiệm với tủy xương vào những năm 1950 đã dẫn đến phát hiện về sự tồn tại của tế bào gốc trong cơ thể (TS. Phạm Mạnh Hùng, 2008) [7].
Nguồn tế bào gốc sử dụng cho các nghiên cứu được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau như tế bào gốc lấy từ phôi, dịch ối. Tuy nhiên, những nguồn tế bào này được cho là có liên quan đến việc phá hủy phôi, tổn hại thai nhi, can thiệp thô bạo làm ảnh hưởng bất lợi cho thai nhi, phần lớn các giáo hội công giáo và chính trị gia đã phản đối gay gắt vì cho rằng đây là vấn đề xâm phạm đến đạo đức, niềm tin tôn giáo. Tế bào gốc cũng có thể được thu nhận từ các mô ở người trưởng thành như tủy xương, máu ngoại vi, nang lông…Tuy nhiên vấn đề này gặp phải khó khăn về kỹ thuật (Logeart-Avramoglou D và cs, 2005) [18], hạn chế về số lượng, tế bào thu được rất ít, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, già và khó biệt hóa (Bobis S và cs, 2006) [14], có nguy cơ tiềm năng của nhiễm virus trong quá trình phân lập của MSCs từ tủy xương (Romanov Y. Hiện nay, các nhà khoa học đang cố gắng tìm kiếm những nguồn tế bào gốc mới để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu thực tiễn.
Những báo cáo gần đây đã chỉ ra rằng, trong nguồn rác thải y tế, dây rốn của trẻ sơ sinh có chứa các tế bào gốc có khả năng biệt hóa cao, gọi là tế bào gốc trung mô. Đây được cho là một phát hiện quan trọng vì có thể thu thập các tế bào gốc mà không e 2 gây bất kỳ tổn thương nào tới cơ thể con người nên ít bị cản trở bởi các vấn đề về luật pháp và đạo đức trong nghiên cứu. Tế bào gốc dây rốn là tế bào gốc nhũ nhi, còn rất trẻ nên khả năng phân chia tốt và số lượng tế bào thu được trực tiếp hoặc sau tăng sinh in vitro là rất lớn. Nó có những đặc điểm giống như các tế bào gốc trưởng thành (có tiềm năng biệt hóa đa năng) (Trương Định và cs, 2009) [4].
Các nghiên cứu đã công bố trước đây cho biết, có thể thu được tế bào gốc máu và tế bào gốc trung mô (MSCs) từ các nguồn khác nhau trong dây rốn như máu dây rốn, lớp Wharton’s jelly (WJ là lớp mô đệm của dây rốn), màng lót và lớp nội mô tĩnh mạch dây rốn (Nguyễn Hồng Trường, 2011) [11]. Trong số đó, phân lập MSCs từ lớp Wharton’s jelly dây rốn là hướng đi mới nhất và đang được nghiên cứu rộng rãi. MSCs từ lớp Wharton’s jelly được đánh giá rất cao về tiềm năng ứng dụng, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân lập và nuôi cấy tế bào gốc từ lớp Whartson's jelly dây rốn ngƣời” để hoàn thiện quy trình phân lập và tìm các chỉ thị bề mặt có vai trò trong việc nhận biết các MSCs từ lớp Wharton’s jelly dây rốn, chủ động nguồn tế bào gốc trung mô phục vụ cho các nghiên cứu sau này. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài - Phân lập tế bào gốc trung mô từ lớp Whatson's jelly dây rốn người. - Nuôi cấy tế bào gốc trung mô từ lớp Whatson's jelly dây rốn người. - Tạo ngân hàng tế bào gốc dây rốn phục vụ các mục đích nghiên cứu trong tương lai. Yêu cầu của đề tài - Phân lập thành công tế bào gốc trung mô từ lớp Whatson's jelly dây rốn người.
e 3 - Nuôi cấy thành công tế bào gốc trung mô từ lớp Whatson's jelly dây rốn người. - Tạo ra ngân hàng tế bào gốc dây rốn phục vụ các mục đích nghiên cứu trong tương lai. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Nghiên cứu được điều kiện nuôi cấy in vitro của tế bào gốc trung mô, từ đó mở rộng các ứng dụng của loại tế bào gốc này.
- Xây dựng được các mô hình thực hành, thí nghiệm trên tế bào gốc trung mô. - Xây dựng được ngân hàng tế bào gốc trung mô phục vụ cho các hướng nghiên cứu trong y sinh học như: Kỹ nghệ mô, liệu pháp tế bào, liệu pháp gen, thử nghiệm độc tố. Ý nghĩa trong thực tiễn của đề tài Biệt hóa thành nhiều loại “tế bào giống tế bào gan”. Góp phần phát triển hướng nghiên cứu phục hồi, thay thế các cơ quan nội tạng có nguồn gốc từ trung bì ở hàng trăm triệu bệnh nhân trên toàn thế giới.
Nghiên cứu về quá trình phân lập, nuôi cấy tế bào gốc trung mô góp phần hỗ trợ, thúc đẩy những hiểu biết về các đặc điểm sinh lý, sinh hóa của tế bào gốc trung mô nói riêng và tế bào gốc nói chung. Gợi mở các hướng nghiên cứu để điều trị bệnh bằng tế bào gốc như: Điều trị bệnh suy tủy, ung thư máu bằng ghép tế bào gốc tạo máu, điều trị bệnh ly thượng bì bọng nước (epidermolysis bullosa), thoái hóa khớp, liệt tủy sống, các bệnh về thoái hóa cơ tim, bỏng da hay nám da, bệnh Alzheimer, Parkinson. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Tế bào gốc Tế bào gốc (stem cell) là những tế bào chưa có chức năng, có thể biệt hóa thành các loại tế bào khác nhau về cấu trúc và chức năng tạo nên quá trình hình thành mô, cơ quan và hệ cơ quan trong các cơ thể (Phan Kim Ngọc, 2009) [8]. Tế bào đầu tiên ở cơ thể người và nhiều loài động vật là hợp tử, hợp tử nguyên phân tạo thành phôi nang (đặc hoặc rỗng), các tế bào phôi nang trải qua quá trình di chuyển để xác lập vị trí các mô, cơ quan trong cơ thể. Vậy hợp tử chính là tế bào gốc đầu tiên của cơ thể. Các tính chất cơ bản của tế bào gốc bao gồm tính tự làm mới (self renew), khả năng phân chia (self generate) và tự khuếch đại (self propagate), khả năng biệt hóa.
Trong đó, khả năng biệt hóa và tính tự làm mới là đặc trưng cơ bản được nhắc tới nhiều nhất của các loại tế bào gốc nói chung. Tính tự làm mới giúp duy trì sự có mặt ổn định của tế bào gốc trong cơ thể. Một tế bào gốc khi phân chia sẽ tạo nên một tế bào gốc khác giống hệt nó. Vì vậy, tuy liên tục biệt hóa tạo nên các tế bào có chức năng cho cơ thể nhưng lượng tế bào gốc trong cơ thể không bị mất đi.
Mặt khác, tế bào gốc, nếu giữ nguyên trạng thái không biệt hóa, dường như có khả năng phân chia vô hạn. Một trong hai tế bào con được sinh ra trong nguyên phân của tế bào gốc luôn là bản sao của tế bào mẹ, tế bào con còn lại sẽ biệt hóa theo nhiều giai đoạn để tạo nên tế bào chuyên hóa (Phan Kim Ngọc, 2009) [8]. Khả năng biệt hóa thành các loại tế bào khác được gọi là tiềm năng. Tiềm năng càng cao thì khả năng biệt hóa thành các loại tế bào khác nhau càng lớn.
Tiềm năng của các loại tế bào gốc khác nhau là khác nhau (tùy thuộc cách phân loại). Các tế bào gốc toàn năng có thể biệt hóa thành hầu hết các e 5 loại tế bào trong cơ thể trong khi các tế bào gốc đơn năng lại chỉ biệt hóa thành một loại tế bào với chức năng nhất định. Ví dụ: Tế bào gốc máu là tế bào gốc đơn năng, có thể biệt hóa thành tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Các tế bào gốc hiện nay trở thành đối tượng nghiên cứu rất đáng quan tâm bởi những tiềm năng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.
Các lĩnh vực chủ yếu hiện nay như trong cấy ghép (tế bào, mô, cơ quan), liệu pháp gen, kiểm nghiệm hóa chất và trong nghiên cứu khoa học (Phạm Văn Phúc, 2006) [9]. Tế bào gốc trung mô Tế bào gốc trung mô (MSC) thuộc nhóm tế bào multipotent hay tế bào gốc đa năng và được thu nhận từ những mô có nguồn gốc từ lớp trung bì, chúng có tính mềm dẻo cao. Các tế bào này có thể tự đổi mới và biệt hóa thành nhiều dòng tế bào chuyên biệt khác nhau như xương, mỡ, sụn, thần kinh, gan, khi được nuôi trong môi trường có tác nhân biệt hóa thích hợp. Tính tự làm mới của MSCs Hình 2.1: Khả năng tự đổi mới của MSCs e 6 Tế bào gốc trung mô có khả năng phân chia, tạo thành một tế bào gốc con giống hệt tế bào gốc ban đầu và một tế bào không mang tính chất của một tế bào gốc gọi là TAC (transit amplifying cell).
Nhìn chung, tế bào MSCs và các tế bào được biệt hóa từ MSCs thuộc nhóm tế bào cần bám dính. Tức là trong điều kiện nuôi cấy invitro, MSCs cần bám vào bề mặt đĩa nuôi cấy nếu không tế bào sẽ nổi lơ lửng, có thể đi vào trạng thái ngừng hoạt động hoặc chết. Các tế bào MSCs có hình dạng thon dài, giống nguyên bào sợi. Sau 5-7 ngày nuôi cấy thì phát triển thành những quần lạc.
Khi tế bào tăng sinh ở mật độ thấp chúng phần lớn có dạng sợi nhưng khi đạt mật độ bao phủ khoảng 80% và bắt đầu tạo thành những “dòng chảy tế bào” song song thì các tế bào trở nên dẹt hơn. Hình dạng này còn được gọi là “confluence” hay “hợp lưu tế bào”. Tiềm năng biệt hóa của MSCs MSCs có khả năng biệt hóa thành các tế bào có chức năng chuyên biệt (Hình 2. Tiềm năng biệt hóa của MSCs phụ thuộc nhiều vào các môi trường nuôi cấy.
Trong các môi trường nuôi cấy của MSCs, thường có thêm các thành phần bổ sung, có vai trò định hướng biệt hóa. Các yếu tố này có thể là các chất hóa học hoặc hormone thường có vai trò nhất định trong cơ thể (Jinlian Hua1, và cs, 2011) [17]. Một vài ví dụ tiêu biểu như: Khi nghiên cứu khả năng tạo tế bào xương, các tế bào MSCs của người đã được cảm ứng biệt hóa bằng muối strontium ranelate của acid renalic với nguyên tố Strontium (ký hiệu Sr). Lượng muối strontium ranelate được sử dụng tương đương với nồng độ được phát hiện trong xương, thực phẩm và nước uống của người trong tự nhiên.