Mở đầu và Kết luận, luận văn có ba chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn khái quát cơ sơ lý luận, lý thuyết tiếp cậm nhằm xây dựng khung lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu chính của luận văn và trình bày ngắn gọn về quan hệ Việt Nam - CHLB Đức cũng nhƣ một số nét về ODA trong mối quan hệ sông phƣơng này làm cơ sở thực tiễn để triển khai phân tích ODA trong quan hệ Việt Nam - CHCB Đức ở Chƣơng 2. ODA trong quan hệ Việt Nam - CHLB Đức phân tích thực trạng ODA của CHLB Đức vào Việt Nam gắn với ba nội dung: (a) vai trò then chốt của các chƣơng trình hợp 18 tác và phát triển kinh tế; (b) tiêu chuẩn kép và mục tiêu thiên niên kỷ trong chính sách phát triển chung của Châu Âu và (c) Sự can thiệp của các tổ chức phi chính phủ trong các thiết chế quốc tế. ODA và triển vọng quan hệ Việt nam – Đức trên những cơ sở đã phân tích ở các chƣơng trên, chƣơng 3 đánh giá cơ hội của Việt Nam trong quan hệ với CHLB Đức thông qua chƣơng trình viện trợ này.
Ngoài ra, trong chƣơng này chúng tôi cũng nhận định về những điểm phù hợp và thành tựu của Việt Nam trong tiếp cận nguồn ODA của CHLB Đức, cũng nhƣ những mặt hạn chế của Việt Nam hiện nay để từ đó có thể có những bƣớc đi phù hợp hơn đối với nguồn ODA của CHLB Đức và từ đó tăng cƣờng mối quan hệ hợp tác giữa hai nƣớc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ODA TRONG QUAN HỆ VIỆT – ĐỨC 1.1 Khái niệm, khái quát về ODA Dƣới danh nghĩa là hỗ trợ phát triển bền vững cho các quốc gia có thu nhập bình quân thấp trên thế giới, các quốc gia phát triển tạo ra dòng vốn đặc biệt - ODA. Trong đó, ODA là viết tắt của Official Development Assistance, mang nghĩa là "Hỗ trợ phát triển chính thức" hay "Viện trợ phát triển chính thức". Dòng vốn này còn đƣợc xem là một trong các hình thức đầu tƣ nƣớc ngoài phổ biến trên trƣờng quốc tế.
Các khoản đầu tƣ này đƣợc hai phần, một là các khoản cho vay với lãi suất thấp (dƣới 2%, trung bình từ 0.25%/năm) trong thời gian dài (25- 40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm), phần còn lại, cũng là phần chiếm nhiều nhất trong khoản đầu tƣ, chính là khoản cho vay không lãi suất, hay còn gọi là phần vốn viện trợ (thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA). Về bản chất, có thể hiểu, ODA là „sân chơi‟ giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang hoặc kém phát triển hơn trên thế giới. Gọi là „sân chơi‟ bởi vì ODA không đơn thuần là dòng chảy lợi ích một chiều từ quốc gia cho vay và quốc gia nhận vốn. Mà ODA còn đƣợc đặt trong một quan hệ chiến lƣợc đối với quốc gia cho vay vốn và quốc gia nhận vốn bởi các yếu tố đi kèm với nó.
Tùy theo mục tiêu của quốc gia cho vay vốn và nhu cầu của quốc gia nhận mà các điều khoản, thỏa thuận và cam kết đi kèm với nguồn vốn ODA sẽ đƣợc điều chỉnh qua từng giai đoạn. Chính vì vậy, có thể nói, ODA còn đóng vai trò quan trọng phản ánh mối quan hệ ngoại giao của hai quốc gia cho và nhận. Theo Dữ liệu Ngân hàng Thế giới (WB), các nƣớc đang phát triển có thể chế và chính sách tốt trên thế giới, cộng với sử dụng hiệu quả nguồn ODA, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trƣởng tăng thêm 0,5%. Trên thế giới, các quốc gia khác cũng thành công nhờ nguồn vốn ODA nhƣ Ba Lan, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia,…Thông qua khu vực công, ODA xuất hiện từ những năm 1993 ở Việt Nam và đã trở thành một trong những nguồn ngoại lực to lớn cho quá trình phát triển thành công kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo của quốc gia, đặc biệt là lĩnh vực hạ tầng xã hội và kinh tế giai đoạn đổi mới cho đến nay(McGillivray 1989).
Tuy nhiên, trên thế giới cũng có những câu chuyện đối lập về việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ này. Điển hình là dù nhận đƣợc nguồn ODA lớn, CHDC Congo, Zambia và Tanzania vẫn là những quốc gia nghèo nhất thế giới, không có tiến bộ trong phát triển kinh tế - xã hội hay cơ sở hạ tầng trong nhiều thập niên qua do cơ chế chính sách quản lý lệch lạc và 20 nạn tham nhũng mất kiểm soát. Tƣơng tự, đối với các quốc gia đầu tƣ ODA, kết quả cũng không phải lúc nào cũng là “quả ngọt”. Chính vì vậy hiệu quả viện trợ trở nên một yếu tố chính thức trong DAC 2001 của Đức, đòi hỏi chính phủ các quốc gia nhận vay phải tập trung hơn vào cơ chế quản lý, chính sách thực thi các dự án ODA hiệu quả.
Tƣơng tự đối với Việt Nam, ODA chính là một trong những công cụ hiệu quả để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mà thực tế từ sau „Đổi mới‟, Việt Nam luôn thực hiện chính sách mở cửa, thông thƣơng, nhấn mạnh các nguồn ngoại lực thông qua đối ngoại khôn khéo, để củng cố và làm tăng sức mạnh nội lực quốc gia. Chính vì vậy, dòng viện trợ ODA chính là một trong những đối tƣợng lý tƣởng về ngoại lực mà Việt Nam nhắm đến, cũng nhƣ là một chiến lƣợc khôn ngoan cho quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển.2 Chủ nghĩa quốc tế (internationalism) Những năm 1990, quan điểm của chủ nghĩa tự do chiếm ƣu thế hơn, nhƣng vẫn còn tranh cãi về khả năng hợp tác lâu dài. Tiếp nối theo đó là sự chuyển dịch cấu trúc quan hệ quốc tế ở đầu thế kỷ 20 lại đặt ra tranh cãi cho chủ nghĩa tự do về giá trị tự do và lợi ích quốc gia.
Tuy nhiên, ngày nay, ở thế kỷ 21, chúng ta không thể phủ nhận rằng sức lôi cuốn bùng nổ từ sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, thúc đẩy thƣơng mại thị trƣờng tự do đƣợc hầu hết các quốc gia theo đuổi. Với ba chìa khóa ngoại giao đó là: (1) giao tiếp quốc tế (international communication), (2) hợp tác duy lý (rational cooperation), (3) luật và các tổ chức quốc tế (international law and organizations), chủ nghĩa tự do đã tự mình tiến hóa tạo ra một lý thuyết quan trọng góp mặt vào các lý luận QHQT mang tên „chủ nghĩa quốc tế‟ (internationalism). "Chủ nghĩa quốc tế" đƣợc các học giả nổi tiếng nhƣ Fukuyama (1989) hay Gardner (1990), và Ikenberry (2006:146) quan tâm và nhận định nhƣ một môi trƣờng lý thuyết kế thừa các khung luật lệ thống nhất và kế thừa, vừa xem trọng các thể chế quốc tế và góp phần điều chỉnh hành vi ứng xử chung, cũng nhƣ vừa giải quyết các mâu thuẫn cho các chủ thể tham gia trong hệ thống QHQT từ chủ nghĩa tự do. So với lý thuyết chủ nghĩa tự do cổ điển hay tân tự do về thiết chế, chủ nghĩa quốc tế giải thích đƣợc sự có mặt của khuynh hƣớng theo đuổi lợi ích quốc gia trong khuôn khổ tự do và hợp tác.
Trong khi đó, CHLB Đức lại là quốc gia xem trọng thƣơng mại và theo đuổi các hợp tác kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, chúng tôi sử dụng quan điểm lý luận của lý luận của chủ nghĩa quốc tế khi xem xét các khía cạnh liên quan đến phát triển kinh tế cũng nhƣ ODA. Chủ nghĩa tự do cổ điển cho rằng con ngƣời có lý tính (rational) và có giá trị tự do cá nhân (individual liberal values). Điều đó nghĩa là, con ngƣời có suy nghĩ lý tính và sẽ tối đa 21 hóa lợi ích và hạn chế chi phí, đặc biệt là chi phí và thiệt hại do chiến tranh.
Con ngƣời hiển nhiên ý thức đƣợc quyền cá nhân và mang trong mình sự tính toán duy lý, họ có quyền bầu nên một nhà nƣớc không mang yếu tố có nguy cơ chiến tranh, đảm bảo an ninh và mang lại sự thịnh vƣợng cho họ5. Vào những năm 1980, giới học thuật đƣợc chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các học thuyết khác bắt nguồn từ lý thuyết của chủ nghĩa tự do cổ điển, với các tƣ tƣởng và giá trị kế thừa6 nhƣ: học thuyết tự do kinh tế (laissez-faire doctrine) của Adam Smith đƣợc hồi sinh. Dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa tân tự do, kết hợp với học thuyết kinh tế đầy hấp dẫn của Smith, các giá trị về tự do trong hệ thống chính trị ở Châu Âu cũng theo đó đƣợc đẩy mạnh nhƣ một biểu tƣợng của nƣớc Đức – cụ thể hơn là ở Tây Đức. Sự kết hợp này tạo ra lý thuyết “kinh tế thị trƣờng xã hội” (soziale Marktwirtschaft), một lý thuyết đã xây dựng nên nền kinh tế chính trị của quốc gia liên bang này7.
Cụ thể, lý thuyết „kinh tế thị trường xã hội‟ này đƣợc Nawroth miêu tả qua các giai đoạn đƣơng nhiệm của hai Thủ tƣớng Konrad Adenauer and Ludwig Erhard là sự kết hợp của các yếu tố kinh tế thị trƣờng, tự do dân chủ và giá trị của công giáo trong giáo dục xã hội (katholische Soziallehre)8. Chính vì vậy, theo Friedrich (1955), có thể nói rằng, chủ nghĩa tân tự do là một khuôn khổ đảm bảo tính ƣu việt của chính trị đối với nền kinh tế9. Ba nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa tân tự do theo David Harvey (2005:2) bao gồm: (a) các giá trị tự do cá nhân trong các vấn đề về kinh tế nhƣ tƣ hữu, tự do thị trƣờng và thƣơng mại phải đƣợc đảm bảo và phát triển trong khung hoạt động của thể chế; (b) vai trò của Nhà nƣớc là phải thành lập, duy trì các thể chế để phát triển kinh tế và thúc đẩy thƣơng mại, nhƣng phải đảm bảo các lợi ích cho cá nhân dựa trên các quyền và giá trị tự do trên; và (c) sự can thiệp của Nhà nƣớc phải ở mức cân bằng về quyền lực và lợi ích trong thể chế đó10. Nhìn chung, chủ nghĩa tự do đƣợc các đại diện tiêu biểu nhƣ Robert O.
Keohane và Joseph Nye phát triển và mở rộng phạm vi trong bối cảnh chính trị quốc tế mang màu sắc hợp tác, đóng vai trò là một trong những cơ sở lý luận quan trọng trong QHQT. Đặc biệt, đóng 5 Robert Keohane và Joseph Nye trong tác phẩm “Power and Interdependence:World Politics in Transition” (1977) 6 Cros, Jaques (1950): Le ―néo-libéralisme‖ et la révision du libéralisme. Toulouse: Imprimerie Moderne. 7 Arndt, Erich (1954): “Neuliberalismus und Wirklichkeit – Neue Wege und alte Dogmen”; Gewerkschaftlicher Monatshefte 5:137-142.
8 Nawroth, Egon Edgar (1961): Die Sozial- und Wirtschaftsphilosophie des Neoliberalismus. 10 Harvey, David (2005): A Brief History of Neoliberalism. Oxford: Oxford University Press.