đặt vấn đề chuyển hóa các quy định của ĐƯQT thành các quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như vấn đề ĐƯQT có hiệu lực trực tiếp đối với các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam”. Cũng về chủ đề này, tác giả Trần Văn Thắng đưa ra quan điểm khá đối lập trong bài viết “Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia trong pháp luật và thực tiễn các nước” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2002. Đứng trên lập trường nhị nguyên (mềm dẻo), tác giả khẳng định tính hiển nhiên và sự cần thiết của việc chuyển hóa: “Về nguyên tắc, luật quốc tế không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Vì thế, muốn cho luật quốc tế được thực hiện ở từng quốc gia thì các quy phạm của nó cần phải được đi vào hệ thống PLQG theo trình tự, thủ tục do chính quốc gia quy định.
Quá trình này thường được các luật gia gọi là chuyển hóa”. Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định chuyển hóa bằng cách nào là tùy thuộc vào quốc gia, do quốc gia tự quy định. Thái Vĩnh Thắng cũng đóng góp góc nhìn riêng của mình trong việc giải quyết mối quan hệ này thông qua bài viết “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa” đăng trên tạp chí Luật học số 2/2003. Xuyên suốt bài viết, tác giả đứng trên quan điểm nhất nguyên luận, khẳng định các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia sẽ trở thành một bộ phận trong HTPL Việt Nam, ĐƯQT có một vị trí xác định trong hệ thống này: dưới Hiến pháp và cao hơn các luật.
Tác giả cũng kiến nghị cần phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng này. Do cách quan niệm như vậy, tác giả không đề cập đến vấn đề chuyển hóa hay nội luật hóa. Cùng trong năm này, tác giả Nguyễn Bá Diến có bài viết “Về việc áp dụng điều ước quốc tế và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” đăng trên tạp chí Kinh tế - Luật (Số 3/2003). Tác giả cho rằng sự tương quan giữa ĐƯQT và PLQG không những là vấn đề trung tâm của khoa học pháp lý quốc tế mà còn là đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật hiến pháp, khoa học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật… Bài viết cũng phân tích mối liên hệ giữa học thuyết về chuyển 16 hóa với quan điểm nhị nguyên luận.
Gắn với thực tiễn Việt Nam, tác giả cho rằng việc xác định trường hợp nào áp dụng trực tiếp điều ước, trường hợp nào phải thông qua thủ tục chuyển hóa cần được quy định rõ trong luật và cần có cách tiếp cận “mềm dẻo, linh hoạt”. Trong Luận văn thạc sĩ luật học “Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế” (bảo vệ năm 2004), tác giả Vũ Thị Thanh Lan cho rằng giải quyết vấn đề chuyển hóa và cách thức chuyển hóa các quy phạm ĐƯQT vào pháp luật trong nước tùy thuộc khá nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ giữa PLQT và PLQG. Tác giả khẳng định về nguyên tắc, luật pháp quốc tế nói chung và Công ước Viên 1969 nói riêng chỉ quy định nghĩa vụ thực hiện các ĐƯQT mà không quy định về cách thức, trình tự tổ chức, triển khai thực hiện cho các chủ thể cam kết mà điều này “thuộc thẩm quyền nội bộ của mỗi quốc gia”. Tuy nhiên tác giả cũng dẫn ra ngoại lệ về việc cách thức thực hiện “thông qua yêu cầu nội luật hóa các quy định của ĐƯQT vào trong PLQG” đôi khi lại được quy định trong chính nội dung của điều ước, ví dụ như một số công ước trong lĩnh vực quyền con người.
Như vậy có thể thấy, xem xét tính bắt buộc của yêu cầu nội luật hóa cần đặt trong bối cảnh cụ thể. Trong luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng cách diễn đạt “chuyển hóa điều ước quốc tế” tuy nhiên cũng đôi lần sử dụng thuật ngữ “nội luật hóa” với ý nghĩa tương đồng. Trong bài viết “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2004, tác giả Ngô Đức Mạnh lại có phần khu biệt và đối lập hai cách thức ứng xử đối với ĐƯQT khi trình bày sơ lược về hai học thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận. Theo đó “chuyển hóa” là biện pháp đặc trưng của các nước theo nhị nguyên luận, “áp dụng trực tiếp” là biện pháp đặc trưng của các nước theo nhất nguyên luận.
Bày tỏ những quan ngại đối với dự thảo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều quốc tế khi mở ra cả hai phương án cho phép áp dụng trực tiếp ĐƯQT lẫn ban hành văn bản để thực hiện, tuy nhiên tác giả lại không nêu quan điểm cá nhân về việc chuyển hóa hay không chuyển hóa. Trong bài viết “Mối quan hệ giữa luật hình sự quốc tế và luật hình sự quốc gia” (tạp chí Luật học, số 1/2012), tác giả Nguyễn Thị Thuận cũng khẳng định chuyển hóa hay nội luật hóa các quy phạm luật quốc tế không phải là nghĩa vụ bắt buộc từ phía luật quốc tế. Theo tác giả, toàn bộ quá trình áp dụng luật quốc tế trong không gian luật quốc gia “được thực hiện bằng các phương thức khác nhau, do các quốc gia tự lựa chọn và quyết định cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của mình”, có thể bằng việc công nhận hiệu lực trực tiếp của quy phạm luật quốc tế trên toàn bộ lãnh thổ 17 quốc gia hoặc bằng phương thức chuyển hóa (sửa đổi, chỉnh lý các văn bản pháp luật trong nước một cách phù hợp). Quan điểm trên dường như trái ngược với quan điểm của nhóm tác giả Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Toàn Thắng thể hiện trong sách chuyên khảo “Luật hình sự Việt Nam và các điều ước quốc tế” (Nxb.
Trong cuốn sách, các tác giả khẳng định nội luật hóa hay chuyển hóa quy định của các ĐƯQT về pháp luật hình sự mà Việt Nam là thành viên thành pháp luật trong nước là nghĩa vụ bắt buộc, “vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là xu thế tất yếu” của quá trình hội nhập quốc tế. Những công trình bàn về mục đích, ý nghĩa và vai trò của nội luật hóa điều ước quốc tế Bàn luận chuyên sâu về chủ đề này, bài viết của tác giả Mạc Thị Hoài Thương đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2013 với nhan đề “Nội luật hóa và vai trò của nội luật hóa trong việc thực hiện điều ước quốc tế” thể hiện một góc nhìn rộng hơn so với các công trình nghiên cứu khái quát về nội luật hóa trước đây vốn chỉ xem xét vai trò của hoạt động này với tư cách là một phương thức để thực thi các quy phạm luật quốc tế trong môi trường luật quốc gia. Trong bài viết, tác giả không giải quyết sâu khái niệm và cách thức nội luật hóa mà chỉ hệ thống lại những tri thức, quan điểm đã được trình bày bởi các tác giả khác. Thành tựu rõ nét nhất thể hiện ở việc tác giả đã đề xướng ra ba vai trò của nội luật hóa ĐƯQT.
Đặc biệt với việc phân tích vai trò thứ 3 “Đảm bảo sự ổn định và phát triển biện chứng của cả hai hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”, tác giả đã khẳng định thông qua nội luật hóa các ĐƯQT, HTPL của một quốc gia sẽ ngày càng được hoàn thiện hơn - Đây là vai trò ít được đề cập hoặc trước đây chưa được nhìn nhận đúng mức. Cần xét trong bối cảnh rằng, trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng và hoàn thiện HTPL ở Việt Nam (chủ yếu từ góc độ của chuyên ngành lý luận chung và luật hiến pháp) cũng có không ít các công trình đã nhắc đến việc nội luật hóa ĐƯQT hay chuyển hóa ĐƯQT. Hầu hết các học giả đều có nhận thức về việc nội luật hóa là một nhân tố thúc đẩy, đưa tới sự cần thiết phải hoàn thiện HTPL. Nói cách khác, thông qua việc hoàn thiện PLQG các ĐƯQT sẽ được nội luật hóa và thực thi một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, các tác giả hầu như chưa đề cập đến mặt thứ hai của vấn đề: bản thân nội luật hóa là một biện pháp hiệu quả để hoàn thiện HTPL, thông qua các thao tác nội luật hóa mà HTPL quốc nội của một quốc gia sẽ được tiếp hợp những tư tưởng, nội dung pháp lý tiến bộ, hiện đại của thế giới qua đó ngày càng trở nên hoàn thiện. 18 Dù không tiếp cận trực diện nhưng một số công trình khác từ góc độ nghiên cứu của luật quốc tế cũng ít nhiều đề cập đến sự liên hệ giữa nội luật hóa ĐƯQT với vấn đề xây dựng và hoàn thiện HTPL của quốc gia. Trong luận văn thạc sĩ luật học“Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” bảo vệ thành công năm 2001, tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân chỉ ra rằng sự tác động giữa PLQT và PLQG là sự tác động qua lại lẫn nhau (và ở các mức độ khác nhau) tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia và các công cụ hợp tác mà quốc gia sử dụng khi tham gia các quan hệ đó. Qua sự tương tác này, các quy định có nội dung tiến bộ thể hiện những thành tựu mới của khoa học pháp lý quốc tế sẽ dần được chuyển tải vào VBQPPL quốc gia.
Điều đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của PLQG, để cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung vừa có thể thiết lập được một HTPL hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Cùng chia sẻ quan điểm đó, trong luận văn của mình (tài liệu đã dẫn), tác giả Vũ Thị Thanh Lan viết: “Hoàn thiện pháp luật quốc gia trong yêu cầu đáp ứng những đòi hỏi của điều kiện trong nước, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực quốc tế là sự thể hiện tác động sâu sắc của ĐƯQT. Nói cách khác, ĐƯQT đã và đang thúc đẩy sự phát triển của PLQG và tạo thuận lợi cho việc hội nhập pháp luật giữa các nước trong quá trình toàn cầu hóa”.