chương 1 còn đề cập đến mục tiêu đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu về động lực học tập của sinh viên Khoa QTKD như là khái niệm về động lực học tập và tầm quan trọng của nó. Tiếp theo, các lý thuyết và mô hình liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập được xem xét. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và mục tiêu của nghiên cứu.
Mô hình này giúp định lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên Khoa QTKD. Mô hình bao gồm các biến độc lập như môi trường học tập, hỗ trợ từ giảng viên, tự tin và định hướng nghề nghiệp, và một biến phụ thuộc là động lực học tập. Phân tích sự tương quan và tác động của các biến này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và mối quan hệ giữa chúng. Chƣơng 3: Phƣơng pháp thực hiện nghiên cứu Mô tả về các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong khám phá nội dung của đề tài, bao gồm quy trình nghiên cứu và cách thức lựa chọn mẫu nghiên cứu.
Mô tả chi tiết về thiết kế bảng câu hỏi cũng được trình bày, đảm bảo tính tin cậy và khả năng thu thập thông tin cần thiết. Tiếp theo, trình bày về phương pháp kiểm định mô hình nghiên cứu, nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới động lực học tập và mối quan hệ giữa chúng. Quá trình xây dựng thang đo cũng được đề cập, đảm bảo đo lường chính xác các biến quan trọng trong nghiên cứu. Cuối cùng, trình bày về quy trình thu thập dữ liệu và đặc điểm của mẫu nghiên cứu.
Phương pháp được dùng là nghiên cứu định lượng được đề cập, đã gồm các bước cụ thể để thu thập dữ liệu và phân tích kết quả. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu cũng được trình bày để đảm bảo tính đại diện và khảo sát đầy đủ các yếu tố quan trọng. Chƣơng 4: Kết quả, ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu 7 Chương 4 tóm tắt kết quả nghiên cứu định tính và định lượng. Nội dung gồm: thống kê mẫu nghiên cứu, phân tích nhân tố khám phá (EFA), độ tin cậy thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính.
Các kết quả được thảo luận và so sánh với giả thuyết nghiên cứu ban đầu. Chương này cung cấp phác họa một cái nhìn tổng thể về sự quan trọng và tầm ảnh hưởng của các biến. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên Khoa QTKD tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý quản trị để cải thiện phát triển động lực học tập.
Đề tài chỉ tập trung vào sinh viên Khoa QTKD tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, do đó kết quả không thể áp dụng rộng rãi cho các ngành khác. Ngoài ra, việc thu thập dữ liệu cũng có một số hạn chế về độ chính xác và sự chủ quan trong phản hồi từ phía sinh viên. Những đóng góp của đề tài Nghiên cứu này đóng góp quan trọng trong việc phân tích và hiểu rõ hơn về động lực học tập của sinh viên Khoa QTKD. Nó cung cấp một cơ sở lý thuyết vững chắc và đề xuất các hàm ý quản trị để cải thiện động lực học tập.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi cho các lĩnh vực học tập khác và đưa ra một bước tiến vượt bậc trong việc thúc đẩy và phát triển động lực của cá nhân. 8 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Nghiên cứu "Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên Khoa QTKD Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM" nhằm phân tích và đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập. Nghiên cứu này xác định các yếu tố và mức độ tác động của chúng, cùng đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện động lực học tập. Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra được những đóng góp của đề tài, đồng thời khái quát được nội dung cấu trúc của đề tài để người đọc có thể dễ dàng theo dõi trong phần nghiên cứu.
9 CHƢƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm động lực Theo Merriam-Webster (1997) cho rằng "động lực đại diện cho sự thôi thúc khiến bạn hành động. Đó là nguồn cảm hứng thúc đẩy chúng ta làm điều gì đó." Trên thực tế, từ lâu, động lực đã được coi là nguồn gốc chính của hành vi cá nhân.
Nói nôm na và đơn giản hơn, động lực là những động cơ hoặc quá trình tạo ra động lực; một yếu tố thúc đẩy hoặc ảnh hưởng để khơi dậy sức phấn ở một người cụ thể; tổng hợp, động lực là một thành phần nhân tố (ví dụ: nhu cầu hoặc mong muốn) hướng dẫn hành vi của một cá nhân. Các khía cạnh phức tạp của động lực thường được nhấn mạnh liên quan đến các kích thích trực tiếp đến cá nhân, bao gồm động lực nội tại hoặc ảnh hưởng của môi trường (Kinman 2001). Giống như phần giải thích sự phức tạp của việc xác định động lực của anh em nhà Kinman (2001) và Pinder (2008), chủ yếu là do sự hiện diện của rất nhiều "xu hướng triết học liên quan đến bản chất con người và những gì có thể hiểu được về chúng". Họ đã chỉ ra rằng động lực thể hiện rõ "sự tập hợp năng lượng được tạo ra cả bên trong và bên ngoài bởi một cá nhân để bắt đầu một hành động có liên quan, hướng, cường độ và thời điểm cụ thể".
Việc nghiên cứu động lực từ quan điểm của các tác giả này tất nhiên là khó khăn vì nó đòi hỏi cần sự chú trọng vào bản chất cá nhân. Ba điểm chính trong mô tả mà Pinder (2008) và Kinman (2001) đã dẫn chứng là: "Động lực có thể bắt nguồn từ bên trong con người hoặc sự kích thích từ bên ngoài, cụ thể chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về động lực bên trong và bên ngoài trong phần tiếp theo"; "Động lực được định nghĩa là một tập hợp năng lượng và chính những năng lượng này thúc đẩy hành động của con người"; "Tập hợp năng lượng này có khả năng hoạt động, tích cực hoặc tiêu cực, để tạo ra diện mạo, phương hướng và mức độ hành vi của con người". Điều này lý giải tại sao mỗi cá nhân thực hiện các hành vi cụ thể, tiếp tục nỗ lực đến lúc chạm tới mục tiêu, họ sẽ ngưng lại khi mà không còn động lực nữa. Động lực bên trong và động lực bên ngoài Động lực bên trong Con người thường dành thời gian cho những hoạt động mà chẳng có những lợi ích cụ thể của nó.
Điều kiện sâu xa của hành vi đó bắt nguồn từ động lực nội tại hay còn gọi là động lực bên trong. "Động lực bên trong có thể hiểu đơn giản là quá trình tham gia những sự kiện với mục tiêu chính là gặp được những niềm vui của bản, phát triển học tập, những thử thách và sự hứng thú. Tương tự như thái độ, động lực nội tại được cho là bao gồm cả yếu tố cảm xúc và nhận thức bên trong. Những nhân tố tố liên quan đến nhận thức về quyền tự quyết định và phát triển cá nhân.
Yếu tố cảm xúc và sự tò mò, phấn khích, hạnh phúc có một mối quan hệ với nhau" (Deci and Ryan 1985). Động lực bên ngoài Những học thuyết hiện nay về động lực ngoại tại thường kết hợp các nền tảng nghiên cứu quan trọng trong quá khứ và mặc dù ban đầu còn hạn chế nhưng giờ đây chúng đã trở nên rõ ràng và chi tiết hơn (Skinner 1953). Nói một cách đơn giản, động lực bên ngoài là động lực thúc đẩy mọi người tích cực tham gia vào một hoạt động. Điều này có sự gắn kết về các khía cạnh xã hội, vật chất và biểu tượng của niềm vui.
Các ví dụ cụ thể bao gồm đánh giá hiệu suất, cạnh tranh địa vị xã hội, khích lẹ bằng tiền hoặc vật chất khác, tránh bị trừng phạt hoặc tuân theo yêu cầu của người khác. Sự khác biệt cơ bản giữa động lực bên trong và bên ngoài nằm ở trọng tâm của phần thưởng, đặc biệt là sự hưởng lợi mà mỗi người nhận được từ việc thực hiện hoạt động nào đó. Như vậy, chúng ta đã học được điều gì đó về sự phức tạp của khái niệm động lực. Hiện vẫn còn nhiều quan điểm về động cơ động lực và nhiều cuộc trao đổi do các nhà khoa học, nhà nghiên cứu diễn giải.
Mục đích của nghiên cứu này không phải là phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến động lực nội tại và ngoại tại trong quá trình học tập của sinh viên. Tuy vậy, khi các tác giả phân biệt rõ ràng giữa động lực bên trong và 11 động lực bên ngoài thì khái niệm động lực có thể được hiểu rõ hơn. Đây cũng là bước chuẩn bị cho việc nghiên cứu diễn giải rõ hơn về động lực học tập. Khái niệm động lực học tập Một nhà nghiên cứu trong nhóm đã đi đến kết luận rằng "động lực là nhân tố duy nhất có khả năng ảnh hưởng trực tiếp và nâng cao thành công trong học tập của học sinh và sinh viên" (Tucker và ctg 2002).
Chi tiết hơn, sự ham muốn trong học tập của sinh viên có thể cho thấy mức độ hướng dẫn, nỗ lực và sự tập trung mà sinh viên đã đầu tư vào công việc bám sát nội dung môn học. Ý nghĩa của việc học được nâng cao khi mọi người tham gia vào các mục tiêu cá nhân hóa, thay vì đáp ứng các nhu cầu bên ngoài. Theo Kroll (1988) cho rằng "động lực nội tại cung cấp cho người học sự hiểu biết hoặc chấp nhận những trải nghiệm học tập phức tạp và sâu sắc, tạo cơ hội hình thành các quan điểm hiện tại và cung cấp tư duy vật lý đơn giản". Dù có chứng cứ chứng minh rằng những yếu tố thúc đẩy từ bên ngoài, như tiền bạc và áp lực từ môi trường, có khả năng ảnh hưởng cực k đến khả năng học tập, nhưng có phải chỉ động lực bên trong mới thúc đẩy tiến bộ học tập?