Chương 1: Giới thiệu Nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các Nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả Nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Có rất nhiều khái niệm về DV nhưng hầu hết đều xem lĩnh vực DV bao gồm tất cả những hoạt động kinh tế tạo ra sản phẩm không mang tính vật chất, được sản xuất và tiêu thụ đồng thời và mang lại những giá trị gia tăng dưới các hình thức (như sự tiện lợi, sự thích thú, sự kịp thời, sự tiện nghi và sự lành mạnh) mà các lợi ích vô hình này về bảng chất dành cho KH đầu tiên.” DV là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực marketing và kinh doanh, với nhiều định nghĩa khác nhau. Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000), DV đề cập đến những hành động, quy trình và phương pháp thực hiện một công việc cụ thể nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, giúp đáp ứng và đáp lại nhu cầu và mong đợi của họ. Theo Gronroos (1990), DV được hiểu là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động không tưởng, trong đó có sự tương tác giữa khách hàng và nhân viên tiếp xúc với khách hàng, cùng với nguồn lực vật chất, hàng hóa hoặc hệ thống cung cấp DV, nhằm giải quyết các vấn đề của khách hàng. Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) “DV là thực hiện những gì mà công ty đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những đối tác lâu dài với KH và thị trường.
DV chỉ đạt chất lượng khi KH cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của công ty mang đến cho KH giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực” Theo Lưu Văn Nghiêm (2008) DV “là một loại hàng hóa đặc biệt có những đặc trưng riêng biệt, phân biệt nó với các loại hàng hóa khác. DV có bốn đặc điểm chính bao gồm: không có tính hiện hữu, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu trữ”. Thứ nhất, theo Lưu Văn Nghiêm (2008) DV không hiện hữu, tức là “DV không tồn tại dưới dạng vật thể, nó không có hìnhdáng cụ thể, không thể nhìn thấy được, không thể sờ mó, không nghe thấy được.khi người ta mua chúng. Là loại DV không thể cấp bằng sáng chế.
DV không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng DV. KH chỉ có 7 thể xác định một các đúng đắn về CLDV thông qua việc sử dụng DV, cảm nhận và đánh giá”. Thứ hai, DV không đồng nhất: “Đặc tính này còn được gọi là đặc tính khác biệt của DV. Theo đó, việc cung ứng DV và thỏa mãn KH tùy thuộc vào hoạt động của nhân viên.
CLDV phụ thuộc nhiều vào các yếu tố không kiểm soát được. Các nhân viên cung cấp DV không thể tạo ra được DV như nhau trong những khoảng thời gian làm việc khác nhau. Trong những khoảng thời gian khác nhau, những KH khác nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm DV sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của KH”.
Thứ ba, DV không tách rời: “Sản phẩm DV gắn liền với hoạt động cung cấp DV. CLDV thể hiện trong quá trình tương tác giữa KH và nhân viên công ty, hay giữa những KH tác động lẫn nhau. Vì vậy, việc sản xuất và cung ứng DV phải thận trọng, không chủ quan, phải xuất phát từ nhu cầu và mong đợi của KH”. Thứ tư, DV không tồn trữ: “DV không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, không thể hoàn trả, thu hồi hay bán lại.
Cung và cầu DV khó cân đối, thường mất cân bằng giữa các thời điểm khác nhau. DV là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó”.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ 2.1 Sự đồng cảm Theo Parasuraman (1988) thì sự đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân KH. Sự đồng cảm thể hiện ở các thuộc tính như nhân viên hiểu đầy đủ nhu cầu của KH; nhân viên đặt lợi ích cao nhất của KH lên hàng đầu hay hoạt động vào giờ thuận tiện cho KH.2 Năng lực phục vụ Theo Parasuraman (1988) thì NLPV (Ngôn ngữ chuyên môn trong lĩnh vực DV) cho thấy “trình độ chuyên môn cần thiết để thực hiện DV. Khả năng chuyên môn này là yếu tố cần thiết cho các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện DV và khả năng nắm bắt thông tin liên quan để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Hay theo Drosos và ctg (2020) yếu tố này được được hiểu như là khả năng đáp ứng của nhân viên với kỳ vọng của KH, như sự quan tâm đến mong muốn của KH và có thể đáp ứng nó đúng với nhu cầu, kỳ vọng của KH, NLPV của KH là khả năng làm cho KH cảm 8 thấy được đón tiếp nhiệt tình, ân tình, họ cảm thấy nhân viên phục vụ luôn hiểu những gì họ muốn, NLPV còn thể hiện 2.3 Phương tiện hữu hình Theo Parasuraman (1988) thì Phương tiện hữu hình" (Tangibles) được thể hiện thông qua các yếu tố bên ngoài như ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ và trang thiết bị được sử dụng để CCDV. Hay theo Drosos và ctg (2020) yếu tố này được thể hiện thông qua các cơ sở vật chất, những trang thiết bị có thể quan sát được khi KH đến giao dịch hay sử dụng DV của ngân hàng, ngoài ra PTHH còn bao gồm trang phục, các trang thiết bị vật chất để thực hiện việc cung cấp DV cho KH.4 Sự đáp ứng Theo Parasuraman (1988) thì sự đáp ứng thể hiện mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ để CCDV cho khách hàng. Theo Galace và ctg (2021) hay Hà Nam Khánh Giao và Trần Thị Kim Dung (2019); Nguyễn Thanh Tùng và ctg (2021) thì “Sự đáp ứng" được thể hiện qua các khía cạnh như: Cung cấp cho khách hàng thông tin chính xác về thời gian thực hiện dịch vụ; CCDV một cách nhanh chóng; Luôn sẵn lòng giúp đỡ khách hàng; Đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng; Phổ biến thông tin đến khách hàng.5 Độ tin cậy Theo Parasuraman (1988) thì Độ tin cậy thể hiện khả năng thực hiện DV đúng và đúng thời hạn từ lần đầu tiên. Điều này giúp khách hàng tin tưởng vào DV của ngân hàng và thể hiện sự tin cậy khi cung cấp DV chính xác, uy tín và đáng tin cậy.
Ngân hàng sẽ thực hiện cam kết của mình với khách hàng, tôn trọng khách hàng và cung cấp các điều kiện tối ưu nhất cho khách hang.3 Mô hình lý thuyết đo lường chất lượng dịch vụ 2.1 Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988) Nỗ lực định nghĩa và đo lường chất lượng đều bắt nguồn từ ngành sản xuất sản phẩm hữu hình. Tuy nhiên, người tiêu dùng có thể đánh giá một sản phẩm hữu hình thông qua hình dáng thiết kế sản phẩm, màu sắc của bao bì, v. Vì có thể sờ ngửi, nhìn, hoặc nếm sản phẩm trước khi mua. Trong khi đó, DV là sản phẩm vô hình, chúng không đồng nhất nhau, và cũng không thể tách ly chúng được, nghĩa là quá trình tiêu dùng DV, theo Svensson (2002), CLDV được thể hiện trong quá trình tương tác giữa 9 KH và nhân viên của công ty cung cấp DV.
Do đó, việc đánh giá chất lượng CLDV không phải là điều dễ dàng. Trong một khoảng thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã nỗ lực để định nghĩa và đo lường CLDV. Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là CLDV phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp DV và (2) kết quả của DV. Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực CLDV, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng.
Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chúc năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào. Tuy nhiên, có lẽ Parasuraman & ctg (1985,1988) là những người tiên phong trong NC CLDV, các nhà nghiên cứu này đưa ra một MH 5 khoảng cách CLDV. (MH sau): Dịch vụ kỳ vọng KHÁCH HÀNG Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận Khoảng cách 4 Khoảng cách 1 Dịch vụ chuyển giao. Thông tin đến khách hàng Chuyển đổi cảm nhận của Công ty thành tiêu NHÀ TIẾP THỊ chí chất lượng Khoảng cách 2 Nhận thức của Công ty và kỳ vọng của Khách hàng Hình 2.1: Năm khoảng cách chất lượng dịch Sự khác biệt đầu tiên xảy ra khi sự mong đợi của khách hàng về CLDV khác với cảm nhận của nhà quản lý DV về những mong đợi đó.
Sự khác biệt thứ hai xảy ra khi công ty DV gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về mong đợi của 10 khách hàng thành các đặc tính CLDV. Khoảng cách đầu tiên xảy ra khi có sự khác biệt giữa khả năng chuyên môn của nhân viên CCDV và nhu cầu đa dạng của khách hàng. Có thể xảy ra trường hợp nhu cầu của khách hàng quá cao vượt qua khả năng của công ty CCDV. Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty CCDV không thể chuyển đổi đầy đủ những yêu cầu của khách hàng thành các tiêu chí đánh giá CLDV.
Khoảng cách thứ ba xảy ra khi nhân viên CCDV không thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đánh giá chất lượng do sự đa dạng trong nhu cầu của khách hàng. Trong quá trình CCDV, nhân viên có vai trò quan trọng trong tạo ra chất lượng, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chí đánh giá chất lượng. Kỳ vọng của KH về CLDV và những thông tin quảng cáo có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng này. Tuy nhiên, nếu thông tin quảng cáo không được thực hiện đúng như hứa hẹn, CLDV sẽ giảm, tạo ra khoảng cách thứ tư.
Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi CLDV KH cảm nhận khác biệt so với kỳ vọng ban đầu của họ. CLDV phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này. Theo Parasuraman và đồng nghiệp (1985), CLDV là một hàm số của khoảng cách thứ năm, phụ thuộc vào khoảng cách thứ 1,2,3 và 4. Nguyên nhân của vấn đề này có thể là do khả năng chuyên môn của nhân viên DV, sự dao động quá nhiều của nhu cầu khách hàng, hoặc việc không đáp ứng được kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Để giảm khoảng cách thứ năm và nâng cao CLDV, nhà quản lý cần nỗ lực để giảm các khoảng cách trước đó. MH CLDV, theo các nhà NC này, có thể được biểu diễn như sau: CLDV=F{KC_5=f(KC_1, KC_2, KC_3, KC_4)}.