CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Theo nghĩa rộng, dịch vụ là lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện, văn minh các nhu cầu của sản xuất và của đời sống xã hội. Nhìn chung người ta định nghĩa dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Zeithaml, V.TS Nguyễn Văn Thanh: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.
Đặc tính của dịch vụ 1. Tính vô hình Nhiều dịch vụ không tồn tại dưới những dạng vật thể hay các thuộc tính vật lí, không thể nhìn thấy trưng bày, không thể cân đong đo đếm… Vì vậy, người dùng dịch vụ cũng rất khó đánh giá chất lượng dịch vụ và giá trị mà họ sẽ có được khi mua dịch vụ. Tính không thể tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng 18 Trong sản xuất hàng hóa thì quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ có một khoảng cách nhất định. Việc sản xuất có thể tiến hành ở khu vực sản xuất như nhà máy, công xưởng, sau đó vận chuyển đến nơi tiêu thụ.
Nhưng quá trình cung cấp dịch vụ lại khó làm được điều đó. Quá trình cung cấp DV và tiêu dùng DV phải xảy ra đồng thời. Người cung cấp DV và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng DV tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các DV, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp DV.
Do dịch vụ được thực hiện bởi các nhà cung cấp nên CLDV không thể đồng đều và người trực tiếp cung cấp dịch vụ đóng vai trò then chốt để tạo nên sự hài lòng cho khách hàng. Tính hay thay đổi, tính dễ bị phá vỡ CLDV phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả các nhân tố chủ quan và khách quan. Nó cũng phụ thuộc vào không gian thời gian cung cấp dịch vụ… Và cũng khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ. Tính không lưu trữ được Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời.
Dịch vụ được thực hiện và tiêu dùng đồng thời chứ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán. Chất lượng dịch vụ 1. Các quan điểm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ trong tiếng Anh được gọi là “service quality”. Đây là một khái niệm được nhiều tác giả đề cập đến như Armand Feigenbaum (1945), Gronroos (1984), Zeithaml (1988), Parasuraman (1988), Russel (1999) … Theo Armand Feigenbaum (1945) “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo 19 lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng - những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”.
Theo Joseph Juran & Frank Gryna “Chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu”. Theo Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”. Zeithaml (1988) cho rằng, chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa: “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”.
Theo quan điểm của Gronroos (1984), “chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lưỡng kỹ năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào”. Trong mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng thì việc đánh giá chất lượng dịch vụ cũng khác nhau: + Trên góc độ nhà cung cấp: chất lượng dịch vụ là việc bảo đảm cung cấp dịch vụ theo đúng kịch bản với kĩ năng nghiệp vụ cao của nhân viên cung ứng và đội ngũ cán bộ quản lí. + Trên góc độ khách hàng, mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu mong đợi của khách hàng, tương xứng với chi phí mà khách hàng phải bỏ ra. 20 Như vậy, chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và môi trường nghiên cứu. Nội hàm của khái niệm này cũng thay đổi liên tục, ban đầu chỉ dừng lại ở chất lượng kĩ thuật, sau đó nhấn mạnh đến sự hài lòng của khách hàng. Theo đó, chất lượng dịch vụ nói chung phụ thuộc vào những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Chất lượng dịch vụ có thể được xem như là mức độ đáp ứng của dịch vụ với nhu cầu hoặc mong đợi của khách hàng, hoặc là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ. Tuy nhiên, vì tính chất vô hình nên rất khó đo lường chính xác chất lượng dịch vụ. Vì vậy, sự hài lòng của khách hàng là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng dịch vụ. Đặc điểm của chất lượng dịch vụ Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc khách hàng… - Chất lượng dịch vụ chỉ được đánh giá một cách chính xác nhất sau khi khách hàng sử dụng dịch vụ.
Khách hàng sau khi trải nghiệm dịch vụ sẽ có những cảm nhận hài lòng hay không hài lòng và đó là một tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ. - Chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào chất lượng của những yếu tố vật chất cấu tạo nên dịch vụ đó. Do đó, ngoài yếu tố tinh thần, chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào cơ sở hạ tầng-vật chất. Một công ty về viễn thông mà các cơ sở vật chất như: node hiệu suất, moderm, cáp quang… mà không đảm bảo thì chắc chắn chất lượng dịch vụ không cao.
- Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào đội ngũ nhân lực tạo nên dịch vụ đó. Họ là những người mang đến những trải nghiệm cho khách hàng. Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ phải đảm bảo chất lượng đội ngũ nhân viên để đạt được sự hài lòng của khách hàng. 21 - Chất lượng dịch vụ đòi hỏi tính nhất quán cao đối với thời gian, địa điểm cũng như là thái độ phục vụ của tất cả các nhân viên trong quá trình tiếp xúc với khách hàng.
Do vậy, các nhà cung cấp dịch vụ cần phải xây dựng được một quy trình cũng như các tiêu chí chất lượng thống nhất khi cung cấp cho khách hàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Năm 1985, Parasuraman đã đưa ra 10 nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ là: khách hàng được tiếp cận, chất lượng thông tin liên lạc, năng lực chuyên môn, phong cách phục vụ, tôn trọng khách hàng, tin cậy, hiệu quả, antoàn, tính hữu hình, am hiểu khách hàng. Đến năm 1988, Parasuraman và cộng sự đã xây dựng thang đo SERVQUAL với 5 thành phần chính là: Sự tin cậy (reliability), sự đáp ứng (responsibility), sự đảm bảo (assurance), sự đồng cảm (empathy) và phương tiện hữu hình (tangibles). Trong đó: + Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua thương hiệu, hình ảnh, tài liệu, trang thiết bị và máy móc để thực hiện dịch vụ và ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ.
+ Độ tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa một cách tin cậy và chính xác. + Tính đáp ứng (Responsiveness): Sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. + Năng lực phục vụ (Assurance): kiến thức chuyên môn và phong cách lịch lãm, niềm nở của nhân viên phục vụ, tính sẵn sàng và đặc biệt là giải quyết nhanh các khiếu nại, thắc mắc của khách hàng. + Sự cảm thông (Empathy): thể hiện sự ân cần, quan tâm, thăm hỏi, động viên đến từng cá nhân khách hàng.
Đối với dịch vụ internet, sự cảm thông biểu thị ở việc các nhân viên có quan tâm, tìm hiều nhu cầu của khách hàng, có 22 nhanh chóng giải quyết các khiếu nại của khách hàng hay không. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của Parasuraman 1. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Có rất nhiều mô hình quản lý chất lượng dịch vụ như: Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985), mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos (1984), mô hình tổng hợp chất lượng dịch vụ của Brogowicz (1990), mô hình đánh giá dựa trên kết quả thực hiện của Cronin và Taylor (1992), mô hình chất lượng dịch vụ bán lẻ và mô hình giá trị nhận thức của Sweeney (1997), mô hình tiền đề và trung gian của Dabholkar (2000). Sự đa dạng của các mô hình chất lượng dịch vụ phản ánh các cách tiếp cận khác nhau về đánh giá chất lượng dịch vụ.
Dưới đây là một số mô hình phổ biến nhất: 1. Mô hình khoảng cách chất lượng của Parasuraman Mô hình khoảng cách chất lượng của Parasuraman là một công cụ phân tích, cho phép nhà quản lý xác định một cách hệ thống các khoảng cách chất lượng dịch vụ giữa một loạt các biến số ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp.