CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ thẻ thanh toán ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về thẻ thanh toán Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thẻ thanh toán, mỗi cách diễn đạt khác nhau nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó của thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ thay thế cho tiền mặt hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc máy rút tiền tự động [1,TV]. Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch được phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính [1,TV].
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt, hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ [1,TV]. Tại Việt Nam, khái niệm về thẻ thanh toán được quy định tại điều 2 của Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, ban hành theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cụ thể: Thẻ ngân hàng: là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Phân loại thẻ thanh toán 1. Phân loại theo lãnh thổ Thẻ trong nước: là loại thẻ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng để giao dịch là đồng bản tệ.
Hoạt động của loại thẻ 15 này đơn giản, bởi nó chỉ do một tổ chức hay một ngân hàng điều hành, từ việc phát hành cho đến xử lý trung gian thanh toán. Ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng của mình và thương lượng với những đơn vị cung ứng dịch vụ, hàng hóa ở địa phương chấp nhận loại thẻ này. Nếu những đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ bán hàng cho khách sử dụng loại thẻ này, họ sẽ phải gửi giấy đòi tiền đến ngân hàng (trên giấy này có chữ ký xác nhận của chủ thẻ). Ngân hàng sẽ ghi có vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thanh toán sau khi đã trừ bớt chiết khấu.
Thẻ trong nước cũng có thể được sử dụng để rút tiền mặt. Nói chung, nó có công dụng như mọi loại thẻ khác. Tuy nhiên, thẻ trong nước cũng có nhược điểm của nó: ngân hàng phải thu hút một số lượng khá lớn các đơn vị chấp nhận thẻ và người sử dụng thẻ, nếu số lượng này mà ít thì việc kinh doanh sẽ không hiệu quả. Mặt khác, việc sử dụng thẻ này bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia.
Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu, sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán. Loại thẻ này được khách hàng (nhất là khách du lịch) rất ưu chuộng do tính tiện lợi, an toàn. Do phạm vi hoạt động trải khắp thế giới, nên quy trình hoạt động, việc kiểm soát tín dụng và các yêu cầu thủ tục thanh toán của thẻ này phức tạp hơn. Thẻ quốc tế được sự hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi những tổ chức tài chính lớn như Master Card, Visa,… hoặc những công ty điều hành như: Amex, JCB,… hoạt động trong một hệ thống thống nhất và đồng bộ.
Điểm mạnh và thuận lợi của loại thẻ này là các ngân hàng được nhiều sự giúp đỡ trong việc nghiên cứu thị trường, xử lý và nâng cao những yếu tố kỹ thuật của thẻ từ trung tâm thẻ thấp hơn so với tự hoạt động. Ngoài ra, do loại thẻ 16 này được phát hành thông qua một chương trình độc quyền nên nó được nhiều người biết đến và dễ dàng được chấp nhận rộng rãi ở hầu hết mọi nơi. Trên thực tế, hiện nay ở hầu hết các ngân hàng thường áp dụng song song hai hệ thống thẻ sử dụng đồng bản tệ và sử dụng ở nước ngoài bằng đồng đô la dưới những thương hiệu nổi tiếng như: Visa, Master Card, JCB, Diners Club… 1. Phân loại theo công nghệ sản xuất Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết của chủ thẻ và đơn vị sản xuất thẻ. Vì vậy hiện nay hầu hết không sử dụng nữa, vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả. Thẻ băng từ: Thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin được mã hóa ở mặt sau của thẻ. Và thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm qua, tuy nhiên loại thẻ này cũng bộc lộ nhược điểm: Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không mã hóa được, người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy tính.
Dễ bị nhiễu thông tin khi tiếp xúc với môi trường từ tính như: máy vi tính, điện thoại, nam châm… Thẻ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp nên không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Thẻ thông minh: Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin họ. Trên mỗi thẻ có gắn một con “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo.
Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử khác nhau có thể nhận dữ liệu, xử lý dữ liệu bằng các ứng dụng thẻ mạch thích hợp và đưa ra kết quả. Do đó, thẻ này có tính bảo mật và an toàn cao do bên trong con “chip” điện tử này ngoài thông số 17 về nhà sản xuất, số seri hệ điều hành còn chứa nhiều chìa khóa bảo mật của nhà sản xuất, của nhà chế tạo và chìa khóa cá nhân. Tuy nhiên, chi phí phát hành thẻ này cao. Phân loại theo chủ thể phát hành Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc số tiền do ngân hàng cấp tín dụn.
Và đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Nó không chỉ lưu hành trong một quốc gia mà có thể lưu hành toàn cầu (thẻ Visa, JVB…). Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn lớn như Amex… Đó cũng có thể là thẻ được phát hành bởi các công ty xăng dầu, cửa hiệu kinh doanh lớn. Phân loại theo tính chất thanh toán thẻ Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, cho phép người sử dụng chi tiêu trước, trả tiền sau.
Chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn không phải trả lãi để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh: cửa hàng, khách sạn, sân bay… chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng được xem như là thẻ ngân hàng vì chúng thường được phát hành bởi các ngân hàng. Các ngân hàng sẽ quy định một hạn mức tín dụng nhất định cho từng chủ thẻ (hay nói cách khác là chủ thẻ chỉ được chi tiêu trong hạn mức đã cho). Nếu chủ thẻ trả hết tiền nợ vào cuối tháng hay là ngày ngân hàng ấn định (theo các hóa đơn được gửi đến từ các cơ sở chấp nhận thanh toán) cho ngân hàng thì họ không phải trả lãi cho số tiền còn nợ lại theo mức lãi suất ấn định trước.
mức lãi suất này thường được xác định tùy theo ngân hàng phát hành thẻ. 18 Như vậy, chủ thẻ hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. Mặt khác, chủ thẻ còn có thể thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại ngoại tệ nào trên thế giới. Tuy nhiên, phí rút tiền mặt của thẻ này khá cao và chủ thẻ phải trả phí thường niên.
Thẻ ghi nợ (Debit card): Đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi mua hàng hóa, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ được trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại các đơn vị chấp nhận thẻ (cửa hàng, khách sạn,…) và đồng thời ghi có ngay vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ đó. Thẻ ghi nợ còn để sử dụng để rút tiền mặt tại các máy ATM. Thường thì thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.
Chủ thẻ chỉ được chi tiêu trên số dư tiền gửi thực tế của mình. Với tính chất như vậy, thẻ ghi nợ thường được cấp cho khách hàng có số dư tiền gửi thường xuyên ghi có. Tuy nhiên, tùy theo sự thỏa thuận giữa chủ thẻ và ngân hàng phát hành, nếu số dư trên tài khoản của chủ thẻ không đủ thanh toán, ngân hàng phát hành sẽ cấp cho khách hàng một mức thấu chi (chi vượt qua số tiền hiện có trên tài khoản). Với hình thức thấu chi này, thẻ ghi nợ đã giúp cho các cá nhân, doanh nghiệp được cấp một khoản tín dụng ngắn hạn mà không cần làm nhiều thủ tục.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: Thẻ on-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ. Thẻ off-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ vài ngày sau đó. 19 Như vậy, mặc dù có nhiều cách phân loại thẻ khác nhau nhưng các loại thẻ trên đều có đặc điểm chung là được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng, là nguồn lợi nhuận quan trọng của các ngân hàng hiện nay. Đặc điểm dịch vụ thẻ thanh toán ngân hàng thương mại Dịch vụ thẻ thanh toán là một trong những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, với những đặc điểm như sau: Linh hoạt: Thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú nên thích hợp với hầu hết đối tượng khách hàng, từ khách hàng có thu nhập thấp tới khách hàng có thu nhập cao.
Tiện lợi: Thẻ thanh toán cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi. Chủ thẻ có thể để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt, hoặc thực hiện các dịch vụ ngân hàng tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ, máy ATM, các ngân hàng thanh toán thẻ trong và ngoài nước. Khi dùng thẻ thanh toán, chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau (thẻ tín dụng).