Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ Theo Kotler & Armstrong (2004): “Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao quyền sở hữu” 5. Theo Zeithaml & Britner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, cách thức, quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phương Trâm, 2014)6. Đặc điểm dịch vụ7 Các đặc trưng nổi bật và riêng biệt của dịch vụ được tóm tắt như sau: Tính vô hình (intangible): Dịch vụ, trong đó có dịch vụ ngân hàng, không phải là tập hợp các yếu tố vật chất hiện hữu mà là tập hợp của các hoạt động.
hầu hết các dịch vụ không đếm được, không đo lường được, không dự trữ được. Tính không thể tách rời (inseparable): Thể hiện ở việc khó khăn trong phân chia DV NH thành hai giai đoạn rạch ròi là cung cấp và tiêu dùng. Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ sẽ xảy ra đồng thời với nhau. Đặc biệt, khách hàng sẽ là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ.
Bên cạnh đó, quá trình cung cấp dịch vụ thường được các ngân hàng tiến hành theo những quy trình nhất định. Do vậy, NH không có sản phẩm dở dang, không có dự trữ hay lưu kho sản phẩm, dịch vụ. Những nguyên lý tiếp thị. NXB Lao động – Xã hội, Việt Nam, 782 trang.
6 Nguyễn Thị Phương Trâm, 2014. Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: So sánh giữa mô hình Servqual và Gronroos, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, pp. 7 Thạc sĩ Cao Minh Nghĩa.
”Tổng quan lý thuyết về ngành kinh tế dịch vụ”.vn/web/guest/cac-khu-vuc-kinh-te?p_pid=> 9 Tính không đồng nhất (heterogeneous): Sản phẩm, dịch vụ NH được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và được thực hiện ở không gian khác nhau nên đã tạo nên tính không đồng nhất về thời gian, cách thức thực hiện và điều kiện thực hiện. Các yếu tố này đan xen chi phối tới chất lượng sản phẩm dịch vụ, nhưng lại thường xuyên biến động , đặc biệt là đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp là yếu tố quyết định và tạo ra sự không ổn định và khó xác định về chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Không thể hoàn trả (non-refundable): Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể trả sản phẩm hoặc trả tiền, nhưng không thể hoàn trả dịch vụ. Nhu cầu bất định (demand uncertainty): Nhu cầu biến động theo không gian, thời gian và điều kiện sử dụng.
Tính cá nhân (personal): Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân đối với dịch vụ đó. Dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm “Dịch vụ ngân hàng điện tử (E-Banking) là dịch vụ của ngân hàng cung cấp và cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch và nắm bắt được thông tin tài chính của mình thông qua các phương tiện điện tử mà không cần đến trực tiếp các quầy giao dịch của ngân hàng”8. Một số người vẫn thường đồng nhất dịch vụ Internet Banking với dịch vụ E- banking là một.
Trên thực tế, DV Internet Banking chỉ là một bộ phận của E- banking và E-banking còn bao hàm cả cung cấp các DV thông qua một số phương tiện khác như: fax, điện thoại,. Tuy nhiên, với những tiện ích của Internet so với các phương tiện khác như là giá giao dịch tương đối rẻ, tốc độ nhanh và mạng lưới kết nối rộng khắp thì Internet Banking được coi là linh hồn của E-banking. Hiện tại, dịch vụ ngân hàng điện tử của NH ACB có tên gọi là ACB Online. Các sản phẩm của dịch vụ ngân hàng điện tử 8 Trương Đức Bảo, 2003, Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch thanh toán điện tử, Tạp chí Tin học Ngân hàng, Số 4-7/2003, pp.
10 Các dịch vụ ACB Online của NH ACB bao gồm các loại hình như sau: ● Internet Banking (ACB - iBanking): Với ACB – iBanking, khách hàng thực hiện giao dịch với ACB thông qua máy tính hoặc thiết bị công nghệ thông minh có kết nối internet tại địa chỉ http://online. Khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, chuyển tiền trên các tài khoản, truy cập thông tin tài khoản cá nhân,. Ngoài ra, khách hàng cũng có thể truy cập vào các website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng. ACB – mBanking chính thức được triển khai từ ngày 09.
● ACB - SMS Banking giao dịch ngân hàng qua tin nhắn SMS của điện thoại di động bằng cách soạn tin nhắn theo cú pháp tin nhắn quy định và gửi về tổng đài 99 và sẽ được ngân hàng gửi tin nhắn hồi đáp thông tin mà khách hàng cần truy vấn. ● Phone Banking (giao dịch ngân hàng qua mạng điện thoại): Sản phẩm này cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động, do vậy các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm thông tin về lãi suất, giá chứng khoán, tỷ giá hối đoái, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên trên tài khoản, các thông báo mới nhất,… Phone Banking được cung cấp qua một hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng, liên kết với khách hàng thông qua tổng đài dịch vụ. Thông qua các chức năng được định nghĩa trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc qua nhân viên trực tổng đài. ● Home-Banking: là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng.
Khác với dịch vụ Internet Banking, dịch vụ Home Banking yêu cầu khách hàng phải đăng ký các máy tính sử dụng dịch vụ với ngân hàng, khách hàng chỉ sử dụng 11 được dịch vụ Home Banking tại các máy đã đăng ký. Tuy nhiên, dịch vụ Phone-Banking và Home-Banking không còn được sử dụng tại ACB từ năm 2014 do tính ứng dụng không còn phổ biến. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ E-Banking nói chung và Internet Banking nói riêng đã tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ thỏa mãn được những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Dịch vụ này mang lại nhiều lợi ích, cụ thể: Đối với ngân hàng - Tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận: E-Banking giúp các ngân hàng tiết kiệm các chi phí đầu tư như thuê/xây dựng thêm chi nhánh, phòng giao dịch, thuê nhân viên, đầu tư các trang thiết bị khác (điều hòa, đèn, điện, nước,…) góp phần gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Nghiên cứu của Booz, Allen và Hamiton (2002) đã tổng hợp bảng phí giao dịch qua ngân hàng (trích dẫn bởi ThS. Kim Ðức Thịnh, Ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ở các NHTM, 2008)9 như sau: Bảng 1.1: So sánh chi phí giao dịch qua NH ở Mỹ STT Hình thức giao dịch Phí bình quân 1 giao dịch (USD) 1 Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07 2 Giao dịch qua điện thoại 0,54 3 Giao dịch qua ATM 0,27 4 Giao dịch qua Internet 0,15 Nguồn: Kết quả khảo sát của hãng nghiên cứu Booz, Allen & Hamilton (2000) - Tiết kiệm thời gian: Một nhân viên chỉ có thể thực hiện tối đa vài trăm cuộc giao dịch tại quầy một ngày, thì với dịch vụ Internet Banking, số lượng giao dịch được thực hiện mỗi ngày có thể lên đến hàng nghìn. Đây là lợi ích vượt trội của dịch vụ Internet Banking mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được. - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Khi các lệnh về thu/chi hộ của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển, qua đó đẩy 9 Kim Ðức Thịnh, 2008, Ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ở các NHTM, Tạp chí Ngân hàng.
12 nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh: Giao dịch điện tử mở rộng khả khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng. Điển hình, E-Banking có thể cung cấp dịch vụ chéo. Theo đó, NH có thể liên kết với các công ty khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan.
- Tăng khả năng chăm sóc khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới: Sự thuận tiện và tiện ích trong việc cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng của E-banking giúp cho NH thu hút và giữ chân khách hàng lâu dài. - Tiếp cận nhanh với các phương pháp quản lý hiện đại: Việc cập nhật mọi thông tin đã giúp các nhà quản trị nắm bắt tình hình hoạt động của ngân hàng mình một cách nhanh chóng và chính xác. Từ đó, có định hướng và sự điều chỉnh hoạt động một cách phù hợp với tình hình riêng của chính ngân hàng đó. Đối với khách hàng Theo BankAway (2001)10, lợi ích lớn nhất mà E-Banking đem lại từ quan điểm khách hàng đó chính là: - Tiết kiệm thời gian và chi phí: Hệ thống này giúp khách hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian, tiền bạc và chi phí đi lại, chỉ cần đã đăng ký dịch vụ E-banking, giao dịch có thể được thực hiện 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần.
- Quản lý thông tin tài chính cá nhân: Các thông tin như lịch sử giao dịch, số dư tài khoản, thanh toán hóa đơn… được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng vào bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu chỉ với một thiết bị có kết nối Internet. Đối với xã hội Theo một nghiên cứu tại Estonia (Aarma & Vensel, 2001), “khách hàng sử dụng các dịch vụ của NH tại chi nhánh giao dịch trung bình 1.235 lần một tháng, và phải chờ tại trụ sở NH trung bình 0. Từ đó chỉ ra rằng việc thực hiện các giao dịch thông qua kênh phân phối điện tử (đặc biệt là sử dụng Internet Banking) hơn là tại các trụ sở 10 BankAway, 2001, Net Banking Benefits, Sheer Acceleration Electronic Banking: The Ultimate Guide to Business and Technology of Online Banking, Edited by SCN Education B. 13 ngân hàng sẽ tiết kiệm được cho nền kinh tế khoảng 0.
Ngoài ra, E-Banking còn thúc đẩy hoạt động kinh tế thương mại quốc tế.