Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Giới thiệu Ở phần tổng quan, tác giả đã giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu: Sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ tiếp tục hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết có liên quan tới đề tài nghiên cứu này, như: (1) Khái niệm dịch vụ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ, (2) chất lượng dịch vụ, thang đo lường chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ đó.1 Dịch vụ và dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.1 Dịch vụ và các đặc điểm của dịch vụ Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Sau đây là một số khái niệm phổ thông nhất: Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng với các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các đặc điểm của dịch vụ Tính vô hình: Hàng hóa có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi vị mà khách hàng có thể tự xem xét đánh giá nó trước khi quyết định mua hay không. -2- Ngược lại với hàng hóa, dịch vụ mang tính vô hình làm cho các giác quan của khách hàng không thể nhận biết trước khi mua, sử dụng dịch vụ. Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Khác với sản phẩm là phải trải qua các quá trình sản xuất – cất trữ - bán –tiêu dùng.
Quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp và tiêu dùng dịch vụ phải tiếp xúc với nhau để tiến hành cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho cả 2 bên. Tính không đồng đều về chất lượng: Dịch vụ không thể cung cấp hàng loạt, tập trung như hàng hóa. Do vậy nhà cung cấp rất khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Nhưng sức khỏe, tâm trạng cũng như sự nhiệt tình của nhân viên phục vụ trong ngày cũng có thể khác nhau tại những thời điểm khác nhau, đặc biệt chất lượng dịch vụ luôn có sự khác biệt giữa các cá nhân cung cấp dịch vụ. Vì thế, dịch vụ có càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng nhất về chất lượng. Tính không dự trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó cung cấp.
Dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, rồi sau đó khi thị trường có nhu cầu thì mang đi bán. Tính không chuyển đổi sở hữu: Khi mua hàng hóa thì người mua có quyền sở hữu đối với hàng hóa, nhưng đối với dịch vụ thì không có sự chuyển đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua. Khi mua dịch vụ, khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.2 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ Khái niệm ngân hàng bán lẻ Ngân hàng bán lẻ là dịch vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới các khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới các chi nhánh và hệ thống các kênh phân phối của ngân hàng. -3- Các loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ phổ biến hiện nay + Tín dụng bán lẻ: là việc cấp hạn mức tín dụng cho các đối tượng khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Vay tiêu dùng, vay sản xuất kinh doanh, vay bất động sản, vay cầm cố sổ tiết kiệm và các giấy tờ có giá khác, … + Huy động vốn bán lẻ: Là hình thức huy động vốn từ các đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngoài các sản phẩm tiền gửi truyền thống, hiện tại còn có các sản phẩm huy động vốn bán lẻ mới linh động hơn về lãi suất, về thời hạn được rút và gửi thêm. + Dịch vụ thanh toán: gồm có các dịch vụ chuyển và nhận tiền trong nước và nước ngoài. + Dịch vụ thẻ: Gồm có dịch vụ thẻ tín dụng và dịch vụ thẻ ghi nợ (thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế). + Internet banking: (Call centre, mobile banking, phone banking, home banking, internet banking, …) Đây là dịch vụ ngân hàng tại gia, phục vụ cho các khách hàng bận rộn không có thời gian đến các điểm giao dịch của ngân hàng, phục vụ nhu cầu truy vấn và chuyển khoản tự động của khách hàng tại nhà.
+ Nhóm các sản phẩm, dịch vụ bán lẻ khác. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Đối với nền kinh tế - Góp phần hình thành nền kinh tế không dùng tiền mặt, - Huy động các nguồn lực trong nước, cũng như nước ngoài cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Đối với các ngân hàng thương mại - Giúp phân tán rủi ro do lượng cầu rất lớn từ phía đông đảo dân cư, - Giúp cho các NHTM cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Đối với khách hàng - Mang lại sự thuận tiện, an toàn và nhanh chóng, -4- - Tiết kiệm được các chi phí không đáng có, - Mang lại nguồn thu nhập ổn định từ tiền gửi, đồng thời cung cấp nguồn vốn kịp thời cho các đối tượng có nhu cầu về vốn.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hiện nay, phát triển dịch vụ NHBL là xu hướng chung của tất cả các ngân NHTM. Nhưng để đạt được điều đó phải phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố khác nhau. Sau đây là một số nhân tố cơ bản: Nguồn nhân lực: Con người là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của các dịch vụ. Trong chiến lược phát triển dịch vụ NHBL của các NHTM, chính sách đưa ra chỉ là định hướng ban đầu, con người thực hiện mới là nhân tố quyết định kết quả của chiến lược.
Chúng ta cũng biết là các dịch vụ NHBL về cơ bản là giống nhau ở các NHTM, chỉ khác nhau ở cách thức phục vụ, mang sản phẩm dịch vụ đến tay khách hàng. Vì thế, một đội ngũ nhân viên giỏi, đầy nhiệt huyết, có khả năng cung cấp dịch vụ nhanh chóng, chính xác mới là điều bận tâm lớn nhất của các cấp lãnh đạo. Năng lực điều hành , quản trị rủi ro: Sự phát triển nhanh chóng, lợi nhuận cao bao giờ cũng đi kèm với mức độ rủi ro tương thích. Vì thế, để vừa thu được lợi nhuận, mà lại hạn chế được rủi ro thì phải phụ thuộc vào rất nhiều năng lực điều hành, khả năng nhìn xa trông rộng của các cấp lãnh đạo trong chính sách quản lý và phòng chống rủi ro.
Sự đa dạng và tiện ích của các dịch vụ ngân hàng bán lẻ : Khi mức sống không ngừng được nâng cao, nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và phức tạp. Để duy trì và phát triển lượng khách hàng của mình, các NHTM phải không ngừng khảo sát, nghiên cứu, nắm bắt kịp thời các nhu cầu mới phát sinh của khách hàng. Từ đó cải biến chúng thành các sản phẩm dịch vụ tương ứng để kịp thời phục vụ những nhu cầu đó của khách hàng. -5- Chất lượng công nghệ thông tin: Để có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ ngân hàng đáp ứng kịp những thay đổi về nhu cầu của khách hàng, buộc các NHTM phải có nền tảng công nghệ tân tiến nhất để làm công cụ thực hiện.
Mật độ mạng lưới các chi nhánh & phòng giao dịch : Vì đích hướng tới là mang đến sự tiện lợi cho khách hàng trong việc giao dịch. Để phát triển dịch vụ NHBL thì các NHTM nên chú ý đến việc phát triển mạng lưới ngân hàng rộng khắp và thuận tiện. Các chính sách khách hàng: Chính sách khách hàng bao gồm việc xác định được nhóm khách hàng riêng biệt và chiến lược chăm sóc đối với từng đối tượng khách hàng đó. Một chính sách khách hàng hợp lý sẽ giữ chân khách hàng trung thành bền lâu với ngân hàng.
Thương hiệu và chiến lược marketing : Hiện nay, trên thị trường ngày càng nhiều NHTM mới lần lượt mở ra. Vì thế ngành ngân hàng đang phải đối đầu với rất nhiều những khó khăn trong công cuộc cạnh tranh , tìm kiếm khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển, thương hiệu của ngân hàng là một yếu tố rất quan trọng trong công cuộc chinh chiến trên thương trường. Vì thế, các NHTM nên cố gắng xây dựng cho mình một thương hiệu có uy tín từ những chiến lược truyền thông, quảng bá đến khách hàng, đồng thời ngày càng tạo lòng tin của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại ngân hàng của mình.2 Chất lượng dịch vụ, thang đo chất lượng dịch vụ & sự thỏa mãn của khách hàng đối vối dịch vụ dó 1.1 Chất lượng dịch vụ Theo TCVN5814-1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO 9000 thì chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn.
Như vậy, khả năng thỏa mãn nhu cầu là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá chất lượng dịch vụ. Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988)[29][30] thì chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ đó.2 Các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ Để đánh giá chất lượng một dịch vụ là một việc làm không hề dễ. Trong quá khứ, đã có nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng đo lường chất lượng dịch vụ, như: Lehtinen & Lehtinen (1982)[25] cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên 2 khía cạnh sau: + Quá trình cung cấp dịch vụ. + Kết quả của dịch vụ.
Gronroos (1984)[16] thì cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá trên 2 lĩnh vực chất lượng dịch vụ sau: + Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ. + Chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào?