Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1. ĐỊNH NGHĨA DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Định nghĩa dịch vụ Trong thực tế đời sống hàng ngày, các hoạt động dịch vụ luôn diễn ra rất đa dạng ở khắp mọi nơi và không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của dịch vụ trong đời sống xã hội. Tuy vậy, để có một khái niệm chuẩn về dịch vụ dường như vẫn còn là vấn đề đang cần bàn luận thêm. Thực tế cho tới nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”. Do nhu cầu trong thực tế đời sống đa dạng và phân công lao động xã hội nên cónhiều loại dịch vụ như dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụphục vụ sinh hoạt công cộng (giáo dục, y tế, giải trí), dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình… Tựu chung lại, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì quan niệm về dịch vụ là những hoạt động phục vụ. Xét theo phạm trù kinh tế, dịchvụ được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm toàn bộ những ngành có tham gia đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội – GDP hoặc tổng sản phẩm quốc dân – GNP trừ các ngành công nghiệp, nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp). Như vậy, theo cách tiếp cận này thì những ngành như vận tải, viễn thông, bưu điện, thương mại, tài chính ngân hàng, du lịch… đều thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Thêm vào đó, phạm trù kinh tế cũng coi dịch vụ là sản phẩm của lao động xã hội, được mua bán trao đổi trên thị trường. Nền sản xuất xã hội được chia thành hai lĩnh vực lớn, đó là sản xuất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hoá và sản xuất dịch vụ. Quá trình tạo ra dịch vụ chính là quá trình tương tác giữa ba yếu tố cơ bản gồm khách hàng – người tiếp nhận dịch vụ; cơ sở vật chất và nhân viên phục vụ. Ba yếu tố vừa kể trên cóquan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống mà trong đó dịch vụ là kết quả của sự tương tác trực tiếp giữa khách hàng, nhân viên phục vụ và cơ sở vật chất.
Chẳng hạn, dịch vụ ăn uống trong một nhà hàng là kết quả của sự tác động qua lạigiữa khách hàng, người phục vụ, đồ ăn thức uống và các tiện nghi khác như bàn ghế, bát đũa v.v… Nhiều công trình nghiên cứu vàcác buổi hội thảo của các tổ chức quốc tế như IMF, WTO… về dịch vụ nhằm đi đến sự thống nhất về khái niệm và phạm vi của dịch vụ, trên cơ sở đó đánh giá xu hướng phát triển của dịch vụ. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Các nhà nghiên cứu thường tập trung tìm ra những đặc trưng của sản phẩm hàng hoá và sản phẩm dịch vụ để làm cơ sở phân biệt hàng hoá với dịch vụ, trong đó có những đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, dịch vụ nói chung mang tính vô hình. Quá trình sản xuất hàng hoá tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học nhất định, có tiêu chuẩn cụ thể về kỹ thuật và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hoá.
Khác với hàng hoá, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng những vật phẩm cụ thể và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hoá. Vì vậy, quản lý chất lượng dịch vụ khó khăn hơn so với quản lý chất lượng hàng hoá. Do sản phẩm dịch vụ là kết quả tương tác trực tiếp giữa khách hàng, nhân viên phục vụ và tiện nghi phục vụ nên chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào năng lực, trình độ nghiệp vụ của nhân viên phục vụ, đánh giá chủ quan của khách hàng và tính tiện nghi của trang thiết bị phục vụ. Cùng một loại dịch vụ và tiện nghi phục vụ nhưng nhân viên phục vụ khác nhau thì chất lượng dịch vụ cũng khác nhau, thậm chí kể cả khi cùng một nhân viên phục vụ nhưng mỗi khách hàng lại có những đánh giá khác nhau về chất lượng dịch vụ.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, quá trình sản xuất – cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời trong khi ở nền kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng hoá tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Hàng hoá có thể được lưu kho dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị trường trong khi cung ứng dịch vụ phải gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ trong kho sau đó mới tiêu dùng, vì vậy trong hoạt động dịch vụ không có hiệntượng tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ. Hai điểm đặc trưng nêu trên nhằm mục tiêu phân biệt sản phẩm dịch vụ với sản phẩm hàng hoá, tuy nhiên sự phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối.
Chẳng hạn như một số loại hình dịch vụ khi kết thúc quá trình cung ứng thì đem lại sản phẩm có hình thái vật phẩm như bản photocopy (dịch vụ photocopy). Sự khác biệt mang tính tương đối giữa dịch vụ và hàng hoá là do dịch vụ và hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quá trình hình thành và phát triển dịch vụ gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hoá. Hiện nay, không có bất cứ hoạt động dịch vụ nào diễn ra mà không có sự hiện diện của hàng hoá bởi vì nhân viên phục vụ không thể cung ứng dịch vụ cho khách hàng nếu không có tiện nghi phục vụ (cơ sở vật chất).
Định nghĩa dịch vụ sở hữu công nghiệp Dịch vụ sở hữu công nghiệp là một hoạt động rất cần thiết đối với công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp khi muốn bảo hộ đối tượng của mình có thể sử dụng dịch vụ sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân, các cơ quan Nhà nước về sở hữu trí tuệ cung cấp để lấy thông tin về tình trạng của đối tượng, tình hình bảo hộ của đối tượng sở hữu đó cũng như đề nghị được sử dụng dịch vụ đăng ký và duy trì, thẩm định, giải quyết khiếu nại cũng như thực hiện các quyền khác về sở hữu với đối tượng. Dịch vụ sở hữu công nghiệp được cung cấp có vai trò quan trọng với các doanh nghiệp, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cá nhân, tổ chức có nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và nhu cầu đăng ký làm các tổ chức đại diện, giám định sở hữu công nghiệp. Dịch vụ này là điều kiện để các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tiếp cận với các thông tin về đối tượng sở hữu công nghiệp một cách cụ thể và đầy đủ nhất.
Ngoài ra, dịch vụ còn trợ giúp doanh nghiệp trong quá trình đăng ký, duy trì, bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp khi chủ sở hữu của đối tượng có yêu cầu. Dịch vụ sở hữu công nghiệp có vai trò quan trọng như vậy, nên vấn đề này không chỉ được quy định trong pháp luật của từng quốc gia mà nó còn có mặt trong một số điều ước Quốc tế. Hiện nay, trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 hay Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi năm 2009 cũng như Luật Khoa học và Công nghệ 2000 chưa có định nghĩa cụ thể về dịch vụ sở hữu công nghiệp, chúng ta chỉ có thể tìm thấy những quy định mang tính tổng quát về vấn đề này trong các văn bản như: Nghị định 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật khoa học và công nghệ; Thông tư 08/2006/TT-BKHCN hướng dẫn về dịch vụ sở hữu trí tuệ; Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/07/2009 về việc ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học công nghệ. Trong Điều 2 khoản 8 của Luật Khoa học và công nghệ 2000 có quy định về dịch vụ khoa học và công nghệ như sau: “Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn”.
Dịch vụ sở hữu công nghiệp là một phần của dịch vụ khoa học và công nghệ, điều đó đồng nghĩa với việc dịch vụ sở hữu công nghiệp cũng sẽ có phạm vi hoạt động liên quan tới các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ biến, ứng dụng tri thức,… về sở hữu trí tuệ vào thực tiễn. Theo đó, tổ chức dịch vụ khoa học công nghệ là một trong những loại hình của tổ chức khoa học và công nghệ. Nghĩa là tổ chức dịch vụ sở hữu công nghiệp cũng là một loại hình tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Phân biệt sở hữu trí tuệ và sở hữu công nghiệp Sở hữu trí tuệ là khái niệm lâu đời nhưng mới được quan tâm nhiều tại Việt Nam thời gian gần đây.
Trước kia, các tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn là tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp. Ngày nay, tài sản vô hình nổi lên như một nhân tố đầy giá trị trong hoạt động của doanh nghiệp với bộ phận quan trọng là Sở hữu trí tuệ. Hãy hình dung trên thị trường được toàn cầu hóa hiện nay, một nhãn hiệu hàng hóa - sản phẩm của trí tuệ - mà bạn sở hữu có giá trị tỷ lệ thuận với hàng hóa bán ra. Giá trị của nhãn hiệu hàng hóa đó được tăng lên khi bạn bán được nhiều hàng và không thể tính được khi hàng hóa của bạn đã nổi tiếng.
Đó là lý do người ta định giá nhãn hiệu Coca Cola đến hơn 70 tỷ USD, Microsoft hơn 65 tỷ USD hay Nokia hơn 29 tỷ USD. SHCN chính là một trong hai bộ phận trụ cột của SHTT (bộ phận đang được quan tâm khác hiện nay là “quyền tác giả” hay còn gọi là “bản quyền”).