Mở đầu là nghiên cứu của Valla và Escorbiac (2006), với số liệu khảo sát từ các ngân hàng tại Pháp trong giai đoạn năm 1993-2005, đã đưa ra kết luận rằng RRTK của các ngân hàng bị tác động bởi yếu tố vi mô và vĩ mô bao gồm: quy mô ngân hàng, lợi nhuân ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, lãi suất ngắn hạn và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả nổi bật của nghiên cứu cho thấy tổng giá trị phần tài sản thanh khoản mà ngân hàng nắm giữ tạo điều kiện cho ngân hàng tối đa hóa thu nhập và chính sách lãi suất của chính phủ gây phản ứng tới tính thanh khoản của ngân hàng. - Chung (2009), với bộ số liệu thu thập của hệ thống ngân hàng thương mại trên 12 nền kinh tế ở giai đoạn năm 1994 - 2006. Dữ liệu trong nghiên cứu tác giả thu thập là dữ liệu không cân đối và sử dụng kỹ thuật hồi quy biến công cụ (2SLS) để đo đường RRTK và kết quả hoạt động; trong đó RRTK được đo lường bằng khe 12 ` hở tài trợ và là cũng là biến nội sinh.Tác giả đã đưa ra các yếu tố giải thích cho RRTK bằng nhóm các yếu tố bên trong: tổng tài sản, dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản, sự phụ thuộc tài trợ bên ngoài, dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ và nhóm các yếu tố bên ngoài ngân hàng: lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Kết quả đáng chú ý của bài nghiên cứu là đã chỉ ra rằng quy mô của ngân hàng có tác động lên RRTK là phi tuyến và những ngân hàng bị ảnh hưởng nhiều thị trường tiền tệ ngắn hạn sẽ có khả năng gặp RRTK trong tương lai. - Giannoti, Gibilaro và Mattarocci (2010), đối tượng của nghiên cứu là khả năng thanh khoản của hệ thống tổng thể và nhóm ngân hàng chuyên cho vay bất động sản tại Italia, tác giả đã sử dụng tổng cho vay trung và dài hạn để đánh giá tác động lên khả năng thanh khoản của ngân hàng. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về khả năng thanh khoản giữa giữa hai nhóm ngân hàng này nếu như như nhóm ngân hàng chuyên cho vay bất động sản áp dụng tốt các biện pháp quản lý. - Vodová (2011), với bộ số liệu thu thập của 22 ngân hàng thương mại ở Séc giai đoạn năm (2001- 2009), đưa ra kết quả cho thấy sự tác động của nhóm nhân tố bên trong: tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, lãi suất cho vay thị trường liên ngân hàng và nhóm nhân tố bên ngoài: lạm phát, chu kỳ kinh doanh và cuộc khủng hoảng tài chính.
Kết quả đáng lưu ý trong nghiên cứu này chỉ ra rằng các ngân hàng lớn thường giữ thanh khoản ở mức thấp vì tâm lý dựa vào chính phủ theo lý thuyết “Too big to fail”. - Bonfim và Kim (2011), với bộ số liệu thu thập của các ngân hàng ở Châu Âu và Bắc Mỹ ở giai đoạn năm 2002- 2009, tác giả đã thu thập được 2968 quan sát là các tập đoàn ngân hàng, các ngân hàng thương mại có báo cáo tài chính hợp nhất và loại trừ các ngân hàng không minh bạch về thông tin tài sản. Tác giả đã nhấn mạnh sự quan trọng của việc phân tích thêm yếu tố bên ngoài sẽ có tác dụng hỗ trợ rất cao cho việc tính toán rủi ro thanh khoản. Đồng thời, nghiên cứu của tác giả được phân tích trên hai thời kỳ đó là trước và sau khủng hoảng nhằm làm rõ hơn tầm ảnh hưởng của các yếu tố lên khả năng thanh khoản các ngân hàng.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam.
- Trương Quang Thông (2013), tác giả sử dụng phương pháp định lượng để đo lường các nhân tố bên trong và nhân tố vĩ mô tác động đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng thông qua chỉ số khe hở tài trợ. Đối tượng quan sát gồm 27 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2002-2011. Kết quả cho thấy mô hình FEM là phù hợp với nghiên cứu. Dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản, cho vay trên tổng tài sản có tương quan nghịch với rủi ro thanh khoản; tỷ lệ vay ngắn hạn và vay khác trên tổng nguồn vốn, các yếu tố tài trợ bên ngoài, vốn tự có trên vốn chủ sở hữu có tương quan thuận với rủi ro thanh khoản; chi phí dự phòng rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê.
Các yếu tố bên ngoài: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm nay có tác động làm giảm với rủi ro thanh khoản năm hiện tại nhưng sẽ gây tăng rủi ro thanh khoản năm sau; lạm phát năm nay không gây ảnh hưởng rủi ro thanh khoản năm hiện tại nhưng có tác động giảm rủi ro thanh khoản năm sau; cung tiền không có tác động đến rủi ro thanh khoản. - Dưới sự kế thừa nghiên cứu Trương Quang Thông (2013), nghiên cứu Đặng Văn Dân (2015) cũng đã sử dụng chỉ số khe hở tài trợ để đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng và sử dụng phương pháp định lượng để đo lường sự tác động của yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng lên rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Kết quả chỉ ra mô hình REM là phù hợp với nghiên cứu, sau khi loại bỏ các biến thừa, kết quả cho thấy quy mô tổng tài sản có tác động nghịch với rủi ro thanh khoản; cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều lên rủi ro thanh khoản. Đối tượng quan sát của nghiên cứu là 15 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn năm 2007-2014.
- Khác với cách tiếp cận thanh khoản của hai tác giả trên, Vũ Thị Hồng (2015) đã phân tích thanh khoản của ngân hàng thông qua chỉ số thanh khoản trên tổng huy động ngắn hạn, với bộ dữ liệu không cân xứng của 37 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn năm 2006-2011. Nghiên cứu tập trung vào phân tích sự tác động của yếu tố bên trong tới khả năng thanh khoản của NHTM mà không đề cập tới các yếu tố bên ngoài. Kết quả chỉ ra mô hình FEM là phù hợp với nghiên cứu. Các yếu tố: tỷ lệ 14 ` vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lợi nhuận ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu có tương quan thuận; ngược lại tỷ lệ cho vay trên tổng huy động có tương quan nghịch với khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Tuy các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận thanh khoản khác nhau và bộ dữ liệu nghiên cứu khác nhau, nhưng kết quả của các nghiên cứu có sự thống nhất khi chỉ ra thanh khoản của ngân hàng bị suy giảm nếu gia tăng các khoản cho vay. 15 ` KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Chương 2 của nghiên cứu đã giới thiệu các lý thuyết liên quan về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Đồng thời tác giả cũng đã đúc kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước; kết quả của các nghiên cứu có những điểm tương đồng với nhau và cũng có sự khác biệt. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu hướng tới việc phân tích tác động các yếu tố bên trong ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tới RRTK của ngân hàng.
Dựa trên sự kế thừa, tác sẽ phân tích rủi ro thanh khoản của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017 bằng phương pháp định lượng sẽ được trình bày cụ thể tại chương 3 và chương 4 của nghiên cứu này. 16 ` Chương 3: MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Nguồn dữ liệu. Tác giả đã thu thập dữ liệu từ các BCTC hợp nhất, báo cáo thường niên cùng một số báo cáo nội bộ khác của 17 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn năm 2007- 2017; những dữ liệu này được thu thập từ các website chứng khoán, website của NHTMCP Việt Nam. Các chỉ số kinh tế vĩ mô như: tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế được lấy từ website Tổng cục thống kê Việt Nam.
Trong khoảng thời gian này, nền kinh tế thị trường Việt Nam trải qua nhiều biến động, có tác động đến hoạt động của NHTMCP tại Việt Nam. Việc thực hiện nghiên cứu trong giai đoạn năm 2007- 2017 sẽ giúp phản ánh tốt nhất thực trạng RRTK của các NHTMCP Việt Nam qua nhiều thời kỳ biến động. Nhằm phản ánh thực trạng RRTK của các NHTMCP tại Việt Nam trong thời gian gần nhất; luận văn cập nhật số liệu trên báo cáo tài chính của tất cả các ngân hàng cho đến năm 2017. Tuy nhiên, đến thời điểm lấy số liệu (tháng 8 năm 2017) chỉ có 17 NHTMCP Việt Nam cung cấp đầy đủ dữ liệu cho các biến cần quan sát và phân tích trong mô hình.
Mặc dù vậy, số liệu của các ngân hàng mà tác giả sử dụng nghiên cứu, có sự phân bổ đều các nhóm ngân hàng có quy mô nhỏ, vừa và lớn. Do đó, mẫu thu thập được từ 17 ngân hàng gồm 170 quan sát và là dữ liệu bảng không cân xứng.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu.1 Rủi ro thanh khoản của hệ thống NHTMCP Việt Nam. Tỷ lệ khe hở tài trợ được xem là yếu tố đại diện cho RRTK của nhóm NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn năm 2007-2017. Do sự tăng trưởng tín dụng rất cao của các ngân hàng, đồng thời sự cạnh tranh gay gắt về huy động vốn của các ngân hàng, đã tạo cho các ngân hàng có nguy cơ đối mặt với RRTK cao hơn.1: Tỷ lệ khe hở tải trợ bình quân (2007-2017) Khe hở tài trợ 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 -28.05% Nguồn: Tác giả tự tính toán từ BCTC của 17 NHTMCP Việt Nam.
Từ biểu đồ trên cho thấy xu hướng tăng dần của khe hở tài trợ. Năm có RRTK thấp nhất là năm 2011 với -38,05% và cao nhất là năm 2017 với -28,12%. Giai đoạn đột biến RRTK cao nhất là năm 2011-2012, với sự tăng lên của khe hở là 8,9% so với năm 2011. Nguyên nhân là do dấu hiệu phục hồi của các doanh nghiệp trong nước (đặc biệt là các doanh nghiệp liên quan tới xuất nhập khẩu hàng hóa) sau khi bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng toàn cầu năm 2008.
Các doanh nghiệp bắt đầu mở rộng lại quy mô sản xuất thông qua vốn vay và sự hỗ trợ từ các ngân hàng. Từ đó, doanh số tín dụng của nhóm NHTMCP tăng trưởng 17,51% so với năm 2011; trong khi huy động vốn chỉ tăng 8,48%. Tính tới thời điểm 2017, ngân hàng có nguy cơ gặp RRTK cao nhất đó chính là NHTMCP Công Thương Việt Nam với khe hở tài trợ đạt mức -10,58%; ngân hàng có khe hở tài trợ an toàn nhất là Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam với -52,08%.