chương 1 tác giả đã đưa ra những vấn đề cơ bản của toàn thể luận văn như là mục tiêu nghiên cứu rõ ràng, cụ thể các đối tượng, phạm vi nghiên cứu, đề ra các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn này, bên cạnh đó tác giả nêu ra bố cục gồm 5 chương có trong bài nghiên cứu. Sau đó tác giả xây dựng cơ sở lí thuyết và đề cập đến các nghiên cứu có liên quan đến rủi ro thanh khoản ở chương tiếp theo. 6 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM 2.1 Cơ sở lí thuyết về rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một các kịp thời, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao (Đặng Văn Dân (2015)) Rủi ro thanh khoản là khả năng trong một khoảng thời gian cụ thể, ngân hàng không thể giải quyết các nghĩa vụ ngay lập tức (Drehmann và Nikolaou, 2009). Đó là một rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của mình khi chúng đến hạn mà không gánh chịu những tổn thất không thể chấp nhận được.
Rủi ro này có thể ảnh hưởng xấu đến cả thu nhập của ngân hàng và do đó, nó trở thành ưu tiên hàng đầu của ban quản lý ngân hàng để đảm bảo sẵn có đủ tiền để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai của các nhà cung cấp và người vay, với chi phí hợp lý. Các vấn đề về thanh khoản có thể ảnh hưởng đến thu nhập và vốn của ngân hàng, trong những trường hợp khắc nghiệt có thể dẫn đến sự sụp đổ của một ngân hàng dung môi khác (Barbados Central Bank, 2008). Ngân hàng có thể phải đi vay từ thị trường với một tỷ lệ khá cao trong thời kỳ khủng hoảng thanh khoản. Điều này cuối cùng gây ra sự sụt giảm thu nhập của các ngân hàng.
Hơn nữa, việc vay thêm ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền có thể khiến vốn của ngân hàng bị đe dọa. Do đó, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên, ảnh hưởng đến nỗ lực của ngân hàng trong việc duy trì cấu trúc vốn tối ưu Rủi ro thanh khoản được định nghĩa là tình huống ngân hàng không thể đáp ứng tất cả các yêu cầu của người gửi tiền hoặc toàn bộ hoặc một phần trong một khoảng thời gian nhất định (Jenkinson, 2008). Ngoài ra, nó có thể được định nghĩa là ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nhu cầu tài chính ngắn hạn. Rủi ro thanh khoản không chỉ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn là 7 8 uy tín của ngân hàng.
Thanh khoản không đủ gây ra mất lòng tin của người gửi tiền dẫn đến chi phí cơ hội. Chính vì vậy, rủi ro thanh khoản luôn là mối quan tâm chính trong chiến lược quản lý rủi ro của ngân hàng.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Dưới đây là những nguyên nhân mà theo tác giả đã dẫn đến rủi ro thanh khoản cho NHTM: − Sự mất cân bằng giữa kì hạn của tài sản và kì hạn của nguồn vốn: ngân hàng huy động vốn và vay vốn từ các cá nhân, doanh nghiệp hoặc các TCTD khác với thời gian ngắn, sau đó chuyển thành các khoản cho vay trung và dài hạn. Do đó, xảy ra tình trạng mất cân đối giữa ngày đáo hạn của các khoản huy động và ngày đáo hạn của các khoản cho vay, khiến cho nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kì hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. − Thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu chi trả của ngân hàng: ngân hàng không đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng hoặc thanh toán cho các khoản nợ mà ngân hàng đã vay trước đó.
Đồng thời, ngân hàng cũng không đủ ngân quỹ để giải quyết nhu cầu giải ngân cho các khoản tín dụng dẫn đến mất thanh khoản. Khi đó, ngân hàng buộc phải dùng lượng tiền mặt dự trữ, đi vay thêm để bổ sung hoặc bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, điều này làm tăng rủi ro cho ngân hàng. − Sự thay đổi lãi suất: khi lãi suất thị trường tăng, khách hàng gửi tiền có xu hướng rút tiền để đầu tư vào những nơi khác sinh lợi hơn, đồng thời khách hàng đi vay thì sẽ tìm đến các tổ chức tín dụng khác để vay với mức lãi suất thấp hơn. Lãi suất thị trường thay đổi còn ảnh hưởng đến giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để đáp ứng nhu cầu thanh khoản và còn ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường − Chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng không phù hợp và kém hiệu quả: không dự tính được các nhu cầu rút tiền và các nghĩa vụ phải trả tiền dẫn đến mất khả năng thanh khoản.
8 9 − Khủng hoảng kinh tế: khi khủng hoảng kinh tế xảy ra làm giảm lượng huy động vốn cũng như cho vay, chi phí huy động cũng tăng cao. Đứng trước tình hình khủng hoảng, khách hàng không còn lòng tin vào hệ thống ngân hàng và dần rút tiền ra khỏi NHTM 2.3 Đo lường rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản có thể đo lường bằng các chỉ số thanh khoản. Các chỉ số thanh khoản là các hệ số khác nhau được tính toán từ bảng cân đối kế toán ngân hàng, thường được sử dụng để dự đoán xu hướng diễn biến của thanh khoản ❖ Khe hở tài trợ (FGAP) (Tổng dư nợ tín dụng– Tổng nguồn vốn huy động) Khe hở tài trợ = Tổng tài sản Saunders & Cornett (2006) đã đề xuất sử dụng khái niệm “Khe hở tài trợ” (Financing Gap) để đo lường rủi ro thanh khoản. Saunders & Cornett (2006) thường quan tâm đến hai khoản mục là số dư bình quân của những khoản kí thác lõi và số dư bình quân của những khoản tín dụng trong bảng cân đối kế toán., 2012 trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, phần lớn tài sản sẽ được tài trợ bởi các khoản tiền kí thác trong đó đa phần là các khoản tiền gửi vãng lai có thể bị rút ra khỏi ngân hàng bất kì lúc nào, tạo ra khe hở thanh khoản cho ngân hàng, từ đó tạo ra rủi ro thanh khoản.
Theo Đặng Văn Dân (2015), phương pháp khe hở tài trợ là phương pháp thích hợp nhất trong phân tích định lượng, chỉ số khe hở tài trợ phản ánh được cơ bản nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. Theo tác giả này, nếu: − Khe hở tài trợ là dương và ngân hàng có khe hở tài trợ lớn, nghĩa là các khoản cho vay lớn hơn tiền gửi, khi đó buộc ngân hàng phải giảm tiềm mặt dự trữ và giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ để bù đắp thanh khoản, dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng tăng cao. 9 10 − Khe hở tài trợ là âm, thì các khoản cho vay bé hơn tiền gửi, nghĩa là ngân hàng đang có nguồn vốn huy động dư thừa và có thể gia tăng dự trữ thanh khoản bằng cách mua tài sản có tính thanh khoản cao hoặc sử dụng để cho vay trên thị trường liên ngân hàng, đầu tư tài chính,… ❖ Tài sản thanh khoản (LA) Tỷ lệ thanh khoản ngân hàng (LA) là tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản, tài sản có tính thanh khoản bao gồm: Tiền mặt và các khoản tương đương, tiền gửi tại NHNN; tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác.
Tài sản có tính thanh khoản Tài sản thanh khoản = Tổng tài sản Tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt vì điều đó có nghĩa là ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản hơn trong tổng tài sản (Tu. Tran và cộng sự (2019)) Theo Vodova (2012), tỷ trọng tài sản thanh khoản trong tổng số tài sản càng lớn thì khả năng hấp thụ cú sốc thanh khoản càng cao. Tuy nhiên, giá trị cao của tỷ lệ này cũng có thể được hiểu là không hiệu quả. Vì tài sản thanh khoản mang lại thu nhập thấp hơn thanh khoản chịu chi phí cơ hội cao cho ngân hàng, nói cách khác phần lớn lợi nhuận mà ngân hàng kiếm được đều bắt nguồn từ việc sử dụng tài sản thanh khoản đầu tư vào các dự án hay cho vay.
Chính vì thế, nếu giữ lượng lớn tài sản thanh khoản tại ngân hàng sẽ làm giảm lợi nhuận sinh lời của ngân hàng. Vì vậy cần phải tối ưu hóa mối quan hệ giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Theo Delechat và cộng sự (2014) cho rằng: Thanh khoản được các ngân hàng yêu cầu để thực hiện các hoạt động hàng ngày. Nó tạo điều kiện cho sự sẵn có trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt dự kiến hoặc đột xuất.
❖ Chỉ số trạng thái tiền mặt Chỉ số trạng thái tiền mặt Tiền mặt + Tiền gửi thanh toán tại NHNN + Tiền gửi không kì hạn tại các TCTD = Tổng tài sản 10 11 Tỷ lệ tiền mặt càng cao càng đảm bảo cho ngân hàng có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời, dẫn đến rủi ro thanh khoản thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ này quá cao sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. ❖ Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR) Tổng các khoản cho vay LDR = Tổng các khoản tiền gửi Chỉ số này càng lớn càng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng khả năng thanh khoản lại thấp dẫn đến rủi ro thanh khoản cao.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của NHTM 2.1 Vốn chủ sở hữu (CAP) Tỷ lệ vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản. Vốn chủ sở hữu được xem là nguồn quỹ tự có của ngân hàng, nó thể hiện khả năng tự chống đỡ khi có rủi ro thanh khoản xảy ra.
Thông thường, các ngân hàng không dùng khoản vốn chủ sở hữu để cho vay mà chỉ dùng vào đầu tư mua sắm tài sản cố định, và những tài sản có tính thanh khoản cao.