Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu bao gồm: lý do nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu.com/rates-bonds/vietnam-1-year-bond-yield-historical-data 4 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, các giải thuyết liên quan đến nội dung, và các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Trình bày cách đo lường các biến, thiết kế mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Thực hiện phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Từ kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận cho đề tài, từ đó nêu những mặt hạn chế của đề tài đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 2.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ bản xoay quanh vấn đề nghiên cứu. Luận văn sẽ trình bày sơ lược lý thuyết về rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng; tiếp theo nghiên cứu trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về các chủ đề liên quan và các giả thuyết nghiên cứu. Rủi ro thanh khoản 2. Khái niệm Theo Duttweiler (2008), rủi ro thanh khoản được định nghĩa là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó rủi ro thanh khoản sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn.
Vento & La Ganga (2009) định nghĩa rằng, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không có đủ tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc phải sử dụng những nguồn tài chính khác với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán. Nikolaou (2009) định nghĩa rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi trong một khoảng thời gian nhất định, ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình ngay lập tức. Phân loại rủi ro thanh khoản Theo Duttweiler (2008), khi nói đến đặc tính của các nguồn thanh khoản, người ta thường phân biệt theo: tính sẵn có, cơ cấu đáo hạn, cấu trúc chi phí và rủi ro thanh khoản. Về mặt cấu trúc, chúng thường được chia thành bốn nhóm sau: 6 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: điều này liên quan đến tài sản và nợ.
Những khoản tiền gửi có thể được rút sớm trước ngày tới hạn thay vì chờ đến thời gian đáo hạn. Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: điều kiện thanh toán khác đi so với các điều kiện của hợp đồng. Ví dụ việc trả nợ có thể bị trì hoãn. Rủi ro thanh khoản tài trợ: Nếu một tài sản không được tài trợ hợp lý, việc tài trợ một thương phiếu (CP) theo sau đó có thể phải được thực hiện trong những điều kiện bất lợi, nghĩa là với giá chênh lệch cao hơn.
Trong trường hợp xấu, quỹ tiền thậm chí có thể bị rút nhiều như đã giải thích trong phần rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn. Rủi ro thanh khoản thị trường: một lần nữa thanh khoản thị trường lại có liên quan đến tài sản và nợ. Các điều kiện thị trường bất lợi có thể làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền hoặc để tài trợ cho số lượng cần thiết. Cũng có thể kết hợp các hai tác động.
Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản Theo Nguyễn Bảo Huyền (2016), có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản và bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đó có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ có sự bất cân xứng, bắt nguồn từ chức năng chuyển hóa kỳ hạn của ngân hàng: huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn từ dân chúng để cho vay các khoản tín dụng dài hạn. Như vậy kỳ hạn của tài sản có dài hơn kỳ hạn của tài sản nợ khiến dòng tiền của tài sản có không cân xứng với 7 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam dòng tiền cần đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của các tài sản nợ, gây ra khó khan cho ngân hàng phải lo tìm nguồn bù đắp. Thứ hai, do các ngân hàng không dự tính được nhu cầu rút tiền hoặc các nghĩa vụ phải trả tiền.
Khi nhu cầu rút tiền và nghĩa vụ trả tiền vượt quá mức dự tính, các ngân hàng này sẽ gặp khó khăn về thanh khoản. Thứ ba, do tiềm lực tài chính của ngân hàng còn hạn chế. Vốn điều lệ là số vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong điều lệ của ngân hàng, được hình thành khi ngân hàng thương mại mới được thành lập. Nó phản ánh quy mô hay thực lực tài chính của ngân hàng thương mại.
Nếu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại càng cao, chứng tỏ ngân hàng càng có tiềm lực tài chính và ngược lại nếu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại càng ít thì quy mô hoạt động của ngân hàng càng nhỏ. Các ngân hàng nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay. Có thể nói áp lực rất lớn khi các ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh khoản. Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong những nguyên nhân đẩy ngân hàng thương mại đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột.
Thứ tư, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên rủi ro thanh khoản và yêu cầu tài trợ trong từng loại tiền tệ. Thứ năm, do uy tín của ngân hàng bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh chóng rút tiền gây nên rủi ro thanh khoản. Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu kém, công tác quảng cáo chưa được đầu tư thỏa đáng. Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi suất.
Lãi suất thay đổi ảnh hưởng lứn đến tâm lý của người gửi tiền. Trường hợp lãi 8 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách hàng vay giảm tối đa việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn. Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại. Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả dòng tiền gửi lẫn cho vay, cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.
Ngoài ra, việc thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản tài chính đem bán và ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Thứ hai, chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước. để thực hiện chức năng của mình trong điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước sử dụng ba công cụ bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, và tái chiết khấu các giấy tờ có giá. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của ngân hàng nhà nước mua hoặc bán cho ngân hàng thương mại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc nhà nước.
khi muốn tăng cung tiền, ngân hàng nhà nước nmua trái phiếu từ các ngân hàng thương mại , số tiền mà ngân hàng nhà nước trả cho ngân hàng thương mại làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho ngân hàng thương mại. Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, ngân hàng nhà nước bán trái phiếu cho ngân hàng thương mại, số tiền mà ngân hàng nhà nược thu về làm giảm lượng cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh toán của ngân hàng thương mại. Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà ngân hàng nhà nước bắt buộc các ngân hàng thương mại phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại ngân hàng nhà nước. Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của ngân hàng thương mại tăng và ngược lại.
Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất ngân hàng nhà nước sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại. 9 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ ngân hàng nhà nước rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các ngân hàng thương mại có thể dễ dàng huy động để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Các cơ chế chính sách, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của ngân hàng được ban hành một cách rõ ràng, cụ thể như cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan giám sát ngân hàng, sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng. Theo thời vụ ở những tháng cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên, thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu hàng hóa…tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về thanh khoản cho ngân hàng thương mại. Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi ngân hàng thương mại phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu chi trả tức thì.