Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 2: Kết quả nghiên cứu Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội 6 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Ngƣời tiêu dùng và hành vi mua của ngƣời tiêu dùng Người tiêu dùng là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân. Họ là người tiêu dùng cuối cùng sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra. Theo các nhà kinh tế học, việc tiêu dùng của họ một mặt được xem như là việc sử dụng hoặc hủy bỏ một tài sản kinh tế, mặt khác cũng là cách họ tự thể hiện mình.
Người tiêu dùng có thể là một cá nhân, một hộ gia đình hoặc một nhóm người. Họ rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa.… Chính những khác biệt này đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về nhu cầu và ước muốn của họ trong việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Theo Leon Schiffiman, David Bednall và Aron O’cass (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi, môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ.
Hair và Carl MeDaneil (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ. Như vậy, có thể hiểu rằng hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Cũng có thể coi hành vi mua của người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa các quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức.…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. 7 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi của người mua được tập hợp thành 4 nhóm chính: những nhân tố văn hóa (nền văn hóa, nhánh văn hóa, sự giao lưu và biến đổi văn hóa); những nhân tố mang tính chất xã hội (đẳng cấp xã hội, nhóm xã hội, gia đình, vai trò và địa vị xã hội); những nhân tố mang tính chất cá nhân (tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, tính cách và nhận thức) và những nhân tố tâm lý (động cơ, tri giác, kiến thức, niềm tin, thái độ) (PGS.
Trần Minh Đạo (2002), “Giáo trình Marketing căn bản”, Đại học Kinh tế quốc dân). Việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của 4 nhóm nhân tố này sẽ giúp người bán hiểu rõ về hành vi của người mua, từ đó đáp ứng tốt nhất những mong muốn từ phía khách hàng. Lý thuyết về hành vi lựa chọn của ngƣời tiêu dùng 1. Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of Reasoned Action) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian.
Thuyết cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để giải thích tốt hơn về xu hướng tiêu dùng cần xem xét đến hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của người tiêu dùng. Trong thuyết hành động hợp lý TRA, thái độ của người tiêu dùng đối với việc thực hiện hành vi được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.
Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Yếu tố chuẩn chủ quan được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.…); những người này thích hay không thích họ mua. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc vào 2 yếu tố: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Thái độ của những người có liên quan càng mạnh và mối quan hệ với những người liên quan ấy càng gần gũi thì xu hướng mua của người tiêu dùng càng bị ảnh hưởng nhiều.
8 Theo thuyết này, niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi và thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng mua chứ không ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua. Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng mua sắm của người tiêu dùng, còn xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích xu hướng hành vi của người tiêu dùng. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Niềm tin đối với thuộc tính sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Nguồn: Consumer Behavior, Prentice – Hall International Edition, 1987 Hạn chế của thuyết hành động hợp lý TRA khi dự đoán việc thực hiện hành vi mua của người tiêu dùng là bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân (Grandon & Peter P. Yếu tố xã hội là tất cả những ảnh hưởng của môi trường xung quanh cá nhân mà có thể ảnh hưởng đến hành vi cá nhân (Ajzen, 1991).
Yếu tố về thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng. Thuyết hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen, 1991) được phát triển từ thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng đề thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu hướng hành vi là một hàm của ba nhân tố.
Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB được xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi.
Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Thuyết hành vi dự định (TPB) Thái độ Xu hướng Hành vi Chuẩn chủ quan hành vi thực sự Kiểm soát hành vi cảm nhận Nguồn: Ajzen, 1991 Thuyết hành vi dự định TPB được xem là tối ưu hơn thuyết hành động hợp lý TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu. Bởi thuyết hành vi dự định TPB khắc phục được 10 nhược điểm của thuyết hành động hợp lý TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Tuy nhiên, thuyết hành vi dự định TPB cũng có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner, 2004).
Đầu tiên là có thể có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi ngoài 3 yếu tố: thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận. Thứ hai là có thể có một khoảng cách đáng kể thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá. Trong một khoảng thời gian, ý định của một cá nhân có thể thay đổi. Thứ ba là thuyết hành vi dự định TPB dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định.
Tuy nhiên, cá nhân có thể không hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí đó. Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL Lấy ý tưởng lý thuyết trong mô hình của Gronoos (1984), Parasuraman đã xây dựng một công cụ đo lường hỗn hợp gọi là SERVQUAL (1985), để đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận. Cụ thể: Chất lƣợng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng Mô hình gồm 10 thành phần: (1) Phương tiện hữu hình, (2) Tin cậy, (3) Đáp ứng, (4) Năng lực phục vụ, (5) Tiếp cận, (6) Ân cần, (7) Thông tin, (8) Tín nhiệm, (9) An toàn, (10) Thấu hiểu. Đến năm 1988, Parasuraman và các cộng sự đã hiệu chỉnh còn lại 5 thành phần, là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ phổ biến và được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu marketing.
Theo Parasuraman, chất lượng dịch vụ không thể xác định chung chung mà phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đó và sự cảm nhận này được xem xét trên nhiều yếu tố. Mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL Sự tin cậy Sự cảm Hiệu quả thông phục vụ Chất lượng dịch vụ Sự đảm Sự hữu bảo hình Nguồn: Parasuraman, 1985 Mô hình SERVQUAL được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng và các giá trị khách hàng cảm nhận được, được nghiên cứu thông qua 5 tiêu chí: Sự tin cậy (reliability) Sự tin cậy nói lên khả năng cung ứng dịch vụ chính xác, đúng giờ và uy tín. Điều này đòi hỏi sự nhất quán trong việc thực hiện dịch vụ và tôn trọng các cam kết cũng như giữ lời hứa với khách hàng.