Chương 1: Giới thiệu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Chương 5: Kết luận và hàm ý 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về dịch vụ kế toán 2.1 Khái niệm về dịch vụ Ngày nay, chúng ta có thể nhận biết nhiều hoạt động liên quan đến trao đổi được xem như các dịch vụ. Ngược lại, dịch vụ có thể được chia thành nhiều loại hoạt động khác nhau, xuất hiện trong nhiều lĩnh vực và mức độ đa dạng. Tại các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ và Nhật Bản, ngành dịch vụ đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế, có đóng góp không thua kém gì các ngành kinh tế khác.
Hiện tại, ngành dịch vụ đang phát triển nhanh chóng đã làm cho các khái niệm liên quan đến dịch vụ trở nên phổ biến và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu hơn. Philip Kotler và Armstrong (2004) định nghĩa dịch vụ như là những lợi ích hoặc hoạt động mà doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng, qua đó củng cố, mở rộng và thiết lập mối quan hệ và sự hợp tác dài lâu với khách hàng. Theo Zeithaml và Bitner (2000), dịch vụ là sự kết hợp của các hành vi, quy trình và phương thức thực hiện công việc giúp xây dựng giá trị sử dụng cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của họ. Gronroos (1990) đã đưa ra một định nghĩa cho dịch vụ, mô tả nó như là một chuỗi các hoạt động có tính chất ít nhiều vô hình, có sự tương tác giữa khách hàng và những người làm việc trực tiếp với họ, cùng với các tài nguyên vật chất, sản phẩm hoặc hệ thống cung cấp dịch vụ, để giải quyết các vấn đề của khách hàng một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất.
Tóm lại, dịch vụ có thể được hiểu là quá trình tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp, để tạo ra giá trị và làm thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng theo cách mà họ mong đợi.2 Khái niệm về dịch vụ kế toán 2.1 Các khái niệm liên quan đến dịch vụ kế toán DVKT được cung cấp bởi các công ty kế toán hoặc đơn vị cung cấp DVKT và được thực hiện bởi kế toán viên chuyên nghiệp. Ngoài ra còn có các công ty tự thực hiện các chức năng kế toán của họ bằng cách thuê nhân sự để xử lý các công việc liên quan đến kế toán. Nhiều doanh nghiệp thích thuê ngoài các dịch vụ kế toán cho bên thứ ba vì chi phí thấp hơn và sự sẵn có của chuyên môn được cung cấp bởi các bên thứ ba. Trong số những lý do chính khiến các lãnh đạo doanh nghiệp thích thuê ngoài DVKT của họ 9 là thiếu chuyên môn để xử lý các nhiệm vụ kế toán (Evaraert và cộng sự, 2010) và kiến thức và hỗ trợ kế toán không đầy đủ (Ismail, 2002).
Theo Cơ quan Dịch vụ Tài chính (2015), thuê ngoài kế toán đề cập đến việc chuyển một phần nhiệm vụ kế toán của một tổ chức cho bên thứ ba hoặc một công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn. Theo Maelah và cộng sự (2012), các công việc kế toán được thuê ngoài cho bên thứ ba bao gồm kế toán và quy trình kế toán, kế toán sổ cái chung và một phần của kế toán báo cáo tài chính, các khoản phải trả và các khoản phải thu. Ngoài ra, kế toán chuyên nghiệp cũng cung cấp DVKT trong các lĩnh vực kế toán quản trị, lập kế hoạch tài chính và quản lý rủi ro, và quản lý hiệu suất cho các công ty, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Kamyabi và Devi, 2011). Luật Kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 quy định: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.
Hành nghề kế toán là hoạt động cung cấp DVKT của doanh nghiệp hoặc cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện DVKT.” Luật Kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 tại Điều 3, khoản 13 quy định: “Kinh doanh DVKT là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu.” Như vậy, nó có thể được định nghĩa là DVKT là sự giả vờ "ký hợp đồng phụ tất cả hoặc một phần của một số chức năng trong một doanh nghiệp cho một bên ngoài" (Everaert và cộng sự, 2010). Về mặt kế toán, nó có thể được ám chỉ đến quá trình chuyển các hoạt động kế toán quan trọng của doanh nghiệp sang các đơn vị cung cấp DVKT bên ngoài thay vì sử dụng kế toán nội bộ (Agburu và cộng sự, 2017).2 Các sản phẩm của dịch vụ kế toán Luật Kế toán 2015 đã được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Tại Điều 55 quy định tổ chức, cá nhân đã đăng ký kinh doanh DVKT phải tuân thủ Luật kế toán các DVKT sau: “Làm kế toán; Làm kế toán trưởng; Thiết lập hệ thống kế toán cụ thể cho đơn vị kế toán; Cung cấp và tư vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán; Bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán; Tư vấn tài chính; Kê khai thuế; Các dịch vụ khác về kế toán theo quy định của pháp luật.3 Yêu cầu kế toán Luật Kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, yêu cầu người làm kế toán phải: “Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ sách kế toán và báo cáo tài chính. Phản ánh kịp thời và đúng thời gian quy định thông tin và số liệu kế toán.
Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu, chính xác thông tin và số liệu kế toán. Phản ánh trung thực hiện trạng cũng như bản chất sự việc và nội dung, giá trị của nghiệp vụ kinh tế tài chính. Thông tin và số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát hiện đến khi kết thúc hoạt động kinh tế tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán, số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán của kỳ trước. Phân loại và sắp xếp thông tin số liệu kế toán theo trình tự có hệ thống, có thể so sánh được.4 Nhiệm vụ kế toán Theo Everaert và cộng sự (2010), các nhiệm vụ kế toán cơ bản mà các DVKT thực hiện trong năm được phân loại theo nhóm gồm (1) Ghi chép và theo dõi hóa đơn và giao dịch kế toán; (2) Lập báo cáo kế toán hàng tháng hoặc hàng quý; (3) Tiến hành tính toán cụ thể như khấu hao, thuế, v.
(4) Lập báo cáo cuối năm: dựa trên Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế, các báo cáo này được chuẩn hóa và chứa Bảng cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập,. Luật Kế toán 2015 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2015 tại Điều 3 quy định nhiệm vụ kế toán là: “Thu thập, xử lý thông tin và số liệu kế toán theo đối tượng, nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực, chế độ kế toán. Kiểm tra và giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu nộp và thanh toán nợ. Kiểm tra việc quản lý cũng như sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản để từ đó phát hiện, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính và kế toán.
Phân tích thông tin cũng như số liệu kế toán, tham mưu đề xuất giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị, đưa ra những việc kinh tế và tài chính của đơn vị kế toán. Cung cấp thông tin và số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.5 Điều kiện hành nghề dịch vụ kế toán Thông tư số 297/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính và các quy định khác có liên quan đến điều kiện hành nghề kế toán, cụ thể: - Điều kiện để cá nhân kinh doanh DVKT hành nghề kế toán: 11 “Có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, không thuộc đối tượng không được làm kế toán theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật Kế toán; Có văn phòng và địa chỉ giao dịch; Có Chứng chỉ hành nghề kế toán/ Chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp; Có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán; Người đăng ký hành nghề kế toán từ lần thứ hai trở đi phải có thêm điều kiện tham dự đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm;” - Điều kiện hành nghề kế toán đối với doanh nghiệp kinh doanh DVKT: “Có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán; Có ít nhất 2 người có Chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp, trong đó Giám đốc doanh nghiệp phải là người có Chứng chỉ hành nghề kế toán hoặc Chứng chỉ kiểm toán viên từ 2 năm trở lên; Người đăng ký hành nghề kế toán từ lần thứ hai trở đi phải có thêm điều kiện tham dự đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm.6 Lợi ích của việc sử dụng dịch vụ kế toán Thuê ngoài DVKT mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo nhiều cách. Thuê ngoài kế toán ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Mwangi, Mutiso và Mungai, 2018), và góp phần tiết kiệm chi phí và tăng trưởng chất lượng của các hoạt động thuê ngoài (Potkány và cộng sự, 2016; Lee và cộng sự, 2017). Theo Lee và cộng sự (2017), bằng cách thuê ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của họ.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho rằng chi phí là trở ngại lớn nhất của họ. Tuy nhiên, theo Lacity và cộng sự (2004) trong nghiên cứu của Lee và cộng sự (2017), thuê ngoài KTDV được xem là cách hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp với lợi ích cơ bản là giảm chi phí. Lacity (2004) đã chứng minh rằng chi phí tiền lương cho hệ thống kế toán vượt quá chi phí của hợp đồng sử dụng DVKT trong một năm.2 Các mô hình về việc lựa chọn dịch vụ 2.