Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nghiên cứu của Choi và Mueller (1984), trong bài nghiên cứu của mình đã đưa ra danh sách chi tiết các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển hệ thống kế toán, bao gồm các nhân tố sau: Hệ thống pháp luật, hệ thống chính trị; Nguồn gốc sở hữu vốn; Qui mô và phức tạp của đơn vị; Đặc điểm xã hội; Mức độ kinh tế, nhạy cảm của môi trường kinh doanh; Mức độ suy luận pháp lý; Chính sách kế toán hiện tại; Tốc độ đổi mới kinh doanh; Bối cảnh phát triển kinh tế; Phát triển các thành phần kinh tế; Phát triển giáo dục nghề nghiệp và tổ chức nghề nghiệp. Tuy nhiên đây là các nhân tố chưa được phân nhóm, sau đó 12 nhân tố này được phân loại thành 5 nhóm thích hợp như sau: Môi trường pháp lý, môi trường chính trị; Môi trường kinh tế; Môi trường văn hóa; Môi trường giáo dục, nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp. Nghiên cứu của Xu và cộng sự (2003), nghiên cứu “Các vấn đề chính về quản lý chất lượng thông tin kế toán –trường hợp nghiên cứu tại Úc” cho thấy có 3 vấn đề quan trọng để thông tin chất lượng cao đó là con người, hệ thống và tổ chức, ngoài ra các yếu tố bên ngoài có thể tác động đáng kể đến chất lượng thông tin.
Vấn đề đảm bảo tính chính xác, kịp thời, nhất quán đầy đủ của thông tin kế toán được thảo luận trong thực tế khi có áp lực về thời gian thì tính chính xác có xu hướng bị bỏ qua. Sự không nhất quán của thông tin cũng là một vấn đề lớn trong một tổ chức phi tập trung có nhiều bộ phận và phân ngành khác nhau. Sự không nhất quán không chỉ xảy ra tại điểm đầu vào mà nó cũng có thể xảy ra trong giai đoạn xử lý, dẫn đến báo cáo đầu ra không nhất quán. Nghiên cứu của Ismail (2009), Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán (AIS) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bằng chứng thực nghiệm tại Malyasia (Ismail, 2009).
Tác giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 8 biến có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả của AIS: (1) sự phức tạp của AIS, (2) sự tham gia của nhà quản lý trong việc thực hiện AIS, (3) kiến thức 6 AIS của nhà quản lý, (4) kiến thức về kế toán của nhà quản lý, (5) hiệu quả tư vấn của các chuyên gia, (6) hiệu quả tư vấn của các công ty kế toán, (7) hiệu quả của các cơ quan chính phủ, (8) hiệu quả tư vấn của nhà cung cấp phần mềm kế toán. Với mục tiêu nghiên cứu: khám phá sự phức tạp của AIS, sự tham gia của các nhà quản lý trong việc thực hiện AIS, kiến thức của nhà quản lý về AIS và kế toán và hiệu quả của các chuyên gia bên ngoài; và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của AIS trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Malaysia. Các bảng câu hỏi đã được gửi đến 721 nhà quản lý của các công ty, có 232 công ty đã trả lời khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về kế toán của nhà quản lý, hiệu quả tư vấn của các công ty kế toán và hiệu quả tư vấn của nhà cung cấp phần mềm có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả của AIS tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở Malaysia.
Nghiên cứu của Harun (2012) đã có nghiên cứu về sự thay đổi hệ thống báo cáo kế toán và năng lực thể chế: Trường hợp của Chính phủ ở Indonesia. Nghiên cứu đã xem xét sự thay đổi hệ thống báo cáo của chính quyền cấp tỉnh (PGUS) ở Indonesia và kiểm tra năng lực thể chế của chính quyền trong việc áp dụng một hệ thống kế toán mới. Nghiên cứu tập trung vào bốn vấn đề: (1) Bản chất của sự thay đổi hệ thống báo cáo; (2) Sự đáp ứng của nguồn nhân lực có tay nghề trong việc áp dụng hệ thống kế toán mới; (3) Sự hiểu biết của các quan chức cấp cao về các khía cạnh kỹ thuật và quản lý để áp dụng hệ thống kế toán mới; (4) Các vấn đề tiềm ẩn phát sinh khi triển khai hệ thống kế toán mới. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng nhằm nghiên cứu các định nghĩa về cải cách kế toán khu vực công dựa trên cơ sở 2 khung lý thuyết nền là lý thuyết kinh tế và lý thuyết thể chế thông qua đó kiểm tra cụ thể giả thuyết, giải thích và dự đoán các hiện tượng xảy ra trong tương lai.
Trong việc thu thập dữ liệu, nghiên cứu sử dụng hai nguồn thông tin: (1) nguồn tài liệu và (2) phỏng vấn sâu và bảng câu hỏi. Các nguồn tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu như chính sách chính thức của hệ thống báo cáo khu vực công được sử dụng trong PGUS. Có hai nguồn chính: luật lệ và các quy định về tài chính của chính phủ Indonesia và hệ 7 thống báo cáo trong nước bao gồm Luật tài chính nhà nước ban hành năm 2003 và SAP ban hành năm 2005, các báo cáo của PGUS và các bài báo được công bố về cải cách kế toán khu vực công ở Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng từ quan điểm kinh tế, việc áp dụng hệ thống báo cáo mới nhằm mong muốn cải thiện hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính phủ trong nước.
Nó cũng cho thấy rằng sự thay đổi của hệ thống báo cáo không đi kèm với việc tách vai trò của bầu cử các quan chức địa phương (tức là thống đốc) và các thành viên quốc hội địa phương là các chính trị gia và các nhà ra quyết định trong phân bổ kinh phí và xây dựng ngân sách trong chính quyền tỉnh. Tình trạng này làm suy yếu vai trò công cụ của kế toán khi ra quyết định. Hơn nữa, dựa trên lý thuyết thể chế, việc áp dụng hệ thống báo cáo mới ở cấp tỉnh được thể hiện bằng sự cưỡng chế chính quyền địa phương ở Indonesia phải tuân thủ các quy tắc áp đặt của chính quyền. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện hệ thống kế toán, áp dụng chính sách chế độ kế toán mới không làm giảm mức độ năng lực thể chế của chính quyền địa phương.
Kết quả là, việc thể chế hóa hệ thống kế toán mới chưa mang lại kết quả mong muốn. Vai trò của kế toán như một công cụ chính trị để kiểm soát con người, tăng hiệu quả và cải thiện năng suất làm việc. Nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng phương pháp hỗn hợp (tức là lý thuyết kinh tế và thể chế) hữu ích để nắm bắt đầy đủ và hiệu quả quá trình thay đổi kế toán trong một môi trường cụ thể. Nghiên cứu của Ross H.Mcleod & Harun (2014) đã mô tả và phân tích những thách thức gặp phải trong việc cố gắng cải cách kế toán khu vực công ở Indonesia, mục tiêu chính trong đó là chống tham nhũng và giúp cải thiện công tác quản trị.
Nhóm tác giả đã tiến hành xem xét các luật, quy định của chính phủ và các nguồn khác tập trung vào kế toán khu vực công ở Indonesia. Bằng phương pháp định tính kết hợp định lượng thông qua việc xem xét các luật, quy định của chính phủ và các quy định của Bộ về BCTC của chính quyền địa phương và phỏng vấn các nhà hoạch định chính sách trung ương tham gia vào việc xây dựng các quy định kế toán khu vực công, bao gồm các quan chức cấp cao của Bộ Tài chính và Bộ Nội 8 vụ (MOHA) và kiểm toán viên cao cấp tại BPK. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải cách nhằm kêu gọi giảm thiểu hàng chục ngàn báo cáo phức tạp không cần thiết, các báo cáo kế toán khu vực công đã nhấn mạnh quá nhiều về bản chất và nội dung của các báo cáo, các thông tin trên báo cáo ít được sử dụng để ra các quyết định tài chính và các mục đích quản lý khác. Việc thiếu nhân viên có kỹ năng kế toán tốt là nguyên nhân chính chủ yếu gây ảnh hưởng lớn đến việc cải cách công tác kế toán ở khu vực công… Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đề xuất ba yếu tố cần được thực hiện khi cải cách kế toán ở khu vực công tại Indonesia là: (1) Cần tổ chức các khoá học kế toán cơ bản cho một số lượng lớn công chức hiện tại; (2) phần lớn các phần hành kế toán nên được thuê ngoài bởi các doanh nghiệp tư nhân chuyên về kế toán; (3) bộ phận nhân sự nên tuyển dụng các kế toán viên có trình độ và kinh nghiệm và bố trí ở vị trí phù hợp.
Các nghiên cứu trong nƣớc Các luận án tiến sĩ Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hiền (2014) Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2014) đã có nghiên cứu về hoàn thiện BCTC cho mục đích chung của khu vực công nhằm đảm bảo BCTC khu vực công cung cấp thông tin hữu ích, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Tác giả đã tập trung nghiên cứu về nội dung thông tin trên BCTC cho mục đích chung của khu vực công tại Việt Nam, xu hướng kế toán khu vực công của các quốc gia trên thế giới và các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng và dựa trên nền nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) và Ouda (2004, 2008) để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc cải cách chế độ kế toán khu vực công Việt Nam bao gồm 6 nhân tố: (1) Môi trường chính trị, (2) Môi trường giáo dục, (3) Môi trường kinh tế, (4) Môi trường pháp lí, (5) Môi trường quốc tế, (6) Môi trường văn hoá.