Các Nhân Tố Tác Động Đến Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ Của Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty niêm yết tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý tài chính.

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2023

99
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu của nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Những đóng góp của đề tài

1.6. Nội dung nghiên cứu

1.6.1. Lý thuyết CP đại diện

1.6.2. Lý thuyết bất cân xứng thông tin

1.6.3. Ảnh hưởng của thuế lên CTKHN

1.6.4. Các giả thuyết nghiên cứu, thực nghiệm và biến đại diện

1.6.5. Chọn mẫu và dữ liệu nghiên cứu

1.6.6. Mô hình nghiên cứu

1.6.7. Mô tả biến

1.6.7.1. Biến phụ thuộc
1.6.7.2. Biến giải thích

1.6.8. Trình tự nghiên cứu

1.6.9. Phương pháp kiểm định mô hình

1.6.10. Thực hiện thống kê mô tả trên toàn bộ mẫu

1.6.11. Phương pháp ước lượng mô

1.6.12. Giả thuyết nghiên cứu

1.6.12.1. Giả thuyết nghiên cứu dựa vào lý thuyết tín hiệu
1.6.12.2. Giả thuyết nghiên cứu dựa vào lý thuyết sự phù hợp
1.6.12.3. Giả thuyết nghiên cứu dựa vào lý thuyết chi phí đại diện
1.6.12.4. Giả thuyết nghiên cứu dựa vào lý thuyết dựa trên thuế
1.6.12.5. Giả thuyết nghiên cứu dựa vào lý thuyết bất cân xứng thông tin

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỐNG KÊ MÔ TẢ

4.1. Phân tích kết quả thống kê mô tả các biến

4.2. Phân tích mối tương quan giữa các biến và kiểm định đa cộng tuyến

4.3. Kết quả mô hình hồi quy tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN

4.4. Phân tích kết quả hồi quy

4.5. Tổng hợp và thảo luận kết quả nghiên cứu

4.6. Kết luận chung

4.7. Gợi ý chính sách

4.7.1. Đối với các nhà quản trị tài chính

4.7.2. Đối với cơ quan nhà nước và Tổ chức tín dụng

4.8. Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo

4.8.1. Hạn chế của luận văn

4.8.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ Công Ty Niêm Yết

Cấu trúc kỳ hạn nợ (CTKHN) là một phần quan trọng của cấu trúc vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và sức khỏe tài chính của công ty niêm yết. Việc lựa chọn nguồn tài trợ từ nợ là một trong những cách để công ty huy động vốn, phục vụ sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận. Cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu mà tại đó giá trị doanh nghiệp (DN) là lớn nhất, chi phí tài chính là nhỏ nhất, từ đó tối đa hóa doanh thu. Nếu cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động, nó cũng sẽ tác động đến sức khỏe tài chính và khả năng phá sản của DN. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn vốn, với phương pháp và hình thức huy động thích hợp để sản xuất kinh doanh liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.

1.1. Tầm quan trọng của quyết định tài chính doanh nghiệp

Tài chính công ty bao gồm tất cả các quyết định liên quan đến vấn đề tài chính của DN và được nghiên cứu để tìm kiếm những chính sách phát triển nhằm tối đa hóa giá trị của công ty. Các quyết định này bao gồm quyết định đầu tư, quyết định phân phối và quyết định tài trợ. Khi xây dựng kế hoạch tài trợ, nhà quản lý không chỉ quan tâm đến việc phân bổ nguồn tài trợ từ nợ vay, vốn cổ phần mà còn phải chắc chắn rằng từng thành phần chi tiết trong các nguồn tài trợ này phù hợp với chiến lược chung của công ty.

1.2. Ảnh hưởng của kỳ hạn nợ đến giá trị công ty

Cấu trúc nợ vay có 50% là nợ dài hạn (NDH) sẽ không giống với cấu trúc nợ có 100% là NDH. Kỳ hạn nợ (KHN) có liên quan mật thiết đến giá trị công ty, khả năng thanh khoản thông qua sự khác nhau giữa chi phí sử dụng vốn của nợ ngắn hạn (NNH) và NDH, cung cấp dấu hiệu về chất lượng của các khoản thu nhập của công ty, tăng tính linh hoạt trong tài trợ và giảm chi phí huy động vốn và rủi ro hoàn trả (Cai và cộng sự, 2008). Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hiệu suất khai thác tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của tính hiệu quả của DN.

II. Thách Thức Về Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ Tại Các Công Ty Việt Nam

Ở thị trường kinh tế Việt Nam hiện nay, các công ty niêm yết thực tế chỉ vay ngắn hạn từ ngân hàng là chủ yếu nhằm bổ sung cho nhu cầu về tài sản lưu động, còn nguồn vốn vay dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định là rất ít. Các DN Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển khác sử dụng cơ cấu nợ có nhiều NNH, hay còn gọi là cấu trúc nợ ngắn hạn (được tìm thấy trong Nguyễn Thanh Nhã, 2018). Câu hỏi nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra trước đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng DN sử dụng nhiều cấu trúc nợ ngắn hạn. Trong đó, việc sử dụng NNH được cho là do các DN Việt Nam có rủi ro thanh khoản cao (chất lượng tín dụng thấp) khiến chủ nợ không muốn cho vay dài hạn (Nguyễn Thanh Nhã, 2018).

2.1. Rủi ro thanh khoản và kỳ hạn nợ ngắn hạn

Có thể thấy, CTKHN ngắn hạn và dài hạn, ảnh hưởng của các yếu tố sẽ khác nhau dưới tác động khác nhau của chi phí đại diện và rủi ro thanh khoản. Cụ thể, khi tỷ trọng NNH trên tổng nợ cao, DN gặp rủi ro thanh khoản nhiều hơn, trong khi NDH chiếm tỷ trọng cao hơn thì tác động của chi phí người đại diện có thể gay gắt hơn. Với rủi ro thanh khoản cao, các DN có nhiều cơ hội đầu tư có thể phải chọn NDH để tài trợ.

2.2. Sự khác biệt giữa thị trường mới nổi và phát triển

Do xuất phát điểm về trình độ phát triển, hệ thống thể chế khác hẳn với các nước phát triển, thị trường tài chính trong các nền kinh tế mới nổi có rất nhiều điểm khác biệt với thị trường tài chính tại các nền kinh tế đã phát triển mà qua đó có thể khiến các công ty có các quyết định cấu trúc kỳ hạn nợ vay khác đi.

III. Các Yếu Tố Nội Tại Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ

Bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến Cấu trúc kỳ hạn nợ của các Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam” tác giả mong muốn xem xét về các nhân tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn của nợ vay, đặc biệt là là các nhân tố nội tại của Ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch tại Việt Nam, một lĩnh vực đang được tác giả quan tâm và ứng dụng thực tiễn trong công việc, nhằm phục vụ việc thiết lập cấu trúc kỳ hạn nợ tối ưu, từ đó đạt được mục tiêu tăng trưởng như ý muốn nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro trong các công ty quản trị ngành Khách sạn – Du Lịch tại Việt Nam.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty quản trị ngành Khách sạn – Du Dịch tại Việt Nam. Cụ thể luận văn nghiên cứu khả năng tài chính và khả năng thanh khoản - đại diện cho đặc điểm của công ty, có tương quan nghịch biến hay đồng biến với đến quyết định về kỳ hạn nợ. Từ đó, xác định những nhân tố nội tại mà các DN có thể chú ý khi đưa ra quyết định liên quan đến cấu trúc kỳ hạn nợ.

3.2. Câu hỏi nghiên cứu về tác động của yếu tố nội tại

(1) Các nhân tố nội tại có tác động như thế nào đến CTKHN của các công ty quản trị Khách sạn – Du lịch niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam? (2) Mức độ tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN, từ đó các công ty quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam cần quan tâm đến nhân tố nội tại nào để thiết lập CTKHN tối tưu?

3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cấu trúc kỳ hạn nợ và các nhân tố nội tại tác động đến CTKHN của các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam, cụ thể là khả năng tài chính và khả năng thanh khoản của DN. Phạm vi nghiên cứu thực hiện nghiên cứu các nhân tố nội tại tác động đến CTKHN với mẫu gồm 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2005 - 2021.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Dữ Liệu Phân Tích Cấu Trúc Nợ

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng gồm mẫu 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2021. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và từ kho dữ liệu của Cophieu68 của 30 công ty quản trị Khách sạn – Du lịch này.

4.1. Mô hình hồi quy dữ liệu bảng

Trong mô hình hồi quy dữ liệu bảng, ba phương trình ước lượng phổ biến nhất là: (1) Mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS); (2) Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM) và Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM) - Mô hình hồi quy Pooled OLS là một mô hình có hệ số không đổi, hay có hệ số chặn và độ dốc không đổi. Đối với mô hình này, nhà nghiên cứu có thể gộp tất cả dữ liệu và chạy một mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường.

4.2. Mô hình ảnh hưởng cố định FEM và ngẫu nhiên REM

  • Với giả định tác động của những yếu tố không thể quan sát được (phần sai số không giải thích được), mô hình tác động cố định (FEM) ấn định mỗi quan sát có một hệ số cắt riêng và cố định các tác động của từng Công ty riêng lẻ. - Mặt khác, trong mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), các tác động riêng lẻ được phân phối ngẫu nhiên với các hệ số chặn để nắm bắt các tác động riêng lẻ, mô hình hồi quy được chỉ định với một hệ số chặn đại diện cho tổng giá trị sai số không đổi Và để lựa chọn được mô hình nghiên cứu phù hợp giữa FEM và REM, luận văn sẽ sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn ra mô hình phù hợp.

V. Đóng Góp Của Nghiên Cứu Về Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ

Khả năng chi trả nợ (DSCR) có đóng góp quan trọng cho các nghiên cứu CTKHN: Thứ nhất, đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng khả năng chi trả nợ (DSCR) trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng CTKHN tại các quản trị Khách sạn – Du lịch niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu củng cố và bổ sung cho các nghiên cứu trước khi không giả định các DN sử dụng CTKHN ngắn hạn, thay vào đó, nghiên cứu xem xét CTKHN ngắn và dài hạn. Nghiên cứu này cũng không giả định yếu tố tác động là như nhau tại mọi CTKHN vì sự thiếu phù hợp trong lý thuyết.

5.1. Nghiên cứu đầu tiên về DSCR và CTKHN tại Việt Nam

Thứ ba, việc chọn mẫu là các DN niêm yết tại Việt Nam có thể đánh giá tác động của các nhân tố đối với CTKHN sẽ có nhiều ý nghĩa hơn so với nghiên cứu các nhân tố này tại các quốc gia phát triển. Tác giả đã tìm thấy bằng chứng có tác động có ý nghĩa thống kê của các nhân tố nội tại của công ty lên kỳ hạn nợ bao gồm: độ biến động thu nhập, tài sản hữu hình, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh khoản, quy mô công ty và tỷ số khả năng trả nợ (DSCR). Theo đó, với các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch Việt Nam căn cứ vào tình hình nội tại của mình để quyết định cấu trúc kỳ hạn nợ phù hợp nhằm phân bổ nguồn tài trợ từ nợ đạt hiệu quả cao nhất.

5.2. Ứng dụng trong ngành quản trị du lịch khách sạn

Thứ tư, mẫu nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện trong Ngành quản trị Du lịch - Khách sạn vốn được xem là ngành sử dụng tỷ lệ đòn bẩy nhiều. Việc chọn mẫu là các Doanh nghiệp quản trị Du lịch - Khách sạn niêm yết tại Việt Nam để đánh giá tác động của các nhân tố đòn bẩy trong nội tại...

VI. Phân Tích Các Lý Thuyết Về Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ Doanh Nghiệp

Nghiên cứu này xem xét các lý thuyết chính giải thích quyết định về cấu trúc kỳ hạn nợ của doanh nghiệp. Các lý thuyết này bao gồm lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin, và ảnh hưởng của thuế lên cấu trúc kỳ hạn nợ. Mỗi lý thuyết đưa ra các giả định và dự đoán khác nhau về mối quan hệ giữa các yếu tố doanh nghiệp và kỳ hạn nợ.

6.1. Lý thuyết chi phí đại diện và kỳ hạn nợ

Lý thuyết chi phí đại diện cho rằng sự khác biệt về lợi ích giữa người quản lý và chủ sở hữu có thể ảnh hưởng đến quyết định về kỳ hạn nợ. Các doanh nghiệp có chi phí đại diện cao có thể ưa chuộng nợ ngắn hạn để giảm thiểu rủi ro từ các quyết định đầu tư không tối ưu của người quản lý.

6.2. Lý thuyết bất cân xứng thông tin và tín hiệu

Lý thuyết bất cân xứng thông tin cho rằng doanh nghiệp có thông tin tốt hơn về triển vọng tương lai của mình so với nhà đầu tư bên ngoài. Doanh nghiệp có thể sử dụng kỳ hạn nợ như một tín hiệu để truyền tải thông tin này. Ví dụ, doanh nghiệp có triển vọng tốt có thể phát hành nợ dài hạn để thể hiện sự tự tin vào khả năng trả nợ trong tương lai.

6.3. Ảnh hưởng của thuế lên cấu trúc kỳ hạn nợ

Lý thuyết dựa trên thuế cho rằng doanh nghiệp có thể tối ưu hóa cấu trúc kỳ hạn nợ để giảm thiểu gánh nặng thuế. Ví dụ, nếu lãi suất được khấu trừ thuế, doanh nghiệp có thể ưa chuộng nợ hơn vốn chủ sở hữu.

06/06/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Khung lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 7 CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT & NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CTKHN là một trong những vấn đề liên quan đến quyết định tài trợ của công ty, được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu trong thời gian gần đây. Trong bối cảnh thị trường tài chính cũng như trung gian tài chính tại Việt Nam đang ngày càng phát triển, chất lượng thể chế ngày một tốt hơn, thể hiện đặc điểm riêng biệt của từng công ty đến quyết định về KHN. Do bối cảnh kinh tế của các quốc gia là khác nhau nên kết quả nghiên cứu cũng có sự khác nhau.

Đây là quyết định quan trọng của công ty nhằm hạn chế rủi ro trong thanh khoản, giải quyết mâu thuẫn trong vấn đề đại diện, tăng tính linh hoạt trong hoạt động tài trợ và đặc biệt là giảm chi phí huy động vốn cũng như rủi ro hoàn trả. Trong chương này, bên cạnh việc tìm hiểu về khung lý thuyết có liên quan đến CTKHN của công ty, luận văn sẽ tiến hành tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này, qua đó xác định được vấn đề cần nghiên cứu. Và đây cũng chính là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, biến, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cho việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty quản trị ngành Du lịch – Khách sạn tại Việt Nam trong các chương tiếp theo.1 Lý thuyết CP đại diện (The Agency cost theory) Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự lựa chọn cấu trúc tài chính của các công ty là sự tồn tại của chi phí người đại diện. Các khoản nợ đang hiện hữu (liabilities operations) của DN hiện đại gây ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ (creditors) và những cổ đông (shareholders), sự xung đột này dẫn đến chi phí đại diện của nợ đã xuất hiện.

Các quan điểm chính của lý thuyết chi phí đại diện là: Thứ nhất, khoản nợ ngắn hạn giúp các công ty tránh được các vấn đề đầu tư quá nhiều và giải quyết các vấn đề đầu tư không đầy đủ; Thứ hai, kỳ hạn nợ tăng lên cùng với sự gia tăng quy mô công ty. Các quan điểm chính của lý thuyết về sự ủng hộ giới hạn là: kỳ hạn nợ phải được tương ứng với kỳ hạn tài sản công ty và kỳ hạn nợ có mối quan hệ ngược với tỷ lệ khấu hao tài sản. 8 Myers (1977) lập luận rằng cơ hội đầu tư trong tương lai của Công ty là tương tự như tùy chọn mức tăng trưởng. Theo đó, giá trị của một công ty phụ thuộc vào việc các nhà quản lý của công ty tối ưu thực hiện các tùy chọn này.

Nếu công ty được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, các nhà quản lý (đại diện cho các cổ đông) tối ưu thực hiện tất cả các tùy chọn để gia tăng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận. Tuy nhiên với nợ trong cơ cấu vốn của công ty, các nhà quản lý có thể không theo đuổi các dự án mạo hiểm bởi vì nếu công ty vay nợ để tài trợ cho những khoản đầu tư này, thì việc phải trả lãi định kỳ cũng như trả vốn theo định kỳ sẽ ngăn hoặc giảm việc đầu tư mạo hiểm này. Theo lý thuyết này một phần giải pháp giữa cuộc xung đột cổ đông và người nắm giữ trái phiếu là công ty nên giảm kỳ hạn nợ. Song cũng cần phát triển những nguồn lực từ bên trong đối với những công ty có tình hình tài chính phát triển nhanh.

NNH có thể giảm thiểu một số động cơ rủi ro bất lợi của việc tài trợ bằng nợ vì NNH ít nhạy cảm hơn với sự thay đổi rủi ro của các TS cơ bản của công ty. Cấu trúc tối ưu của một công ty cũng phụ thuộc vào thời gian đáo hạn nợ và thấp hơn khi công ty được tài trợ bằng NNH. Các công ty trong khi phát hành NNH không khai thác được lợi ích thuế hoàn toàn như các Công ty có NDH, có nhiều khả năng họ sẽ có ít động lực hơn để tăng rủi ro DN sau khi phát hành. Dự đoán theo kinh nghiệm là các công ty có nhiều sự lựa chọn tăng trưởng hơn khi sử dụng tỷ lệ NNH cao hơn trong cơ cấu vốn của họ.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) Thông tin bất cân xứng là tình trạng xảy ra khi một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại.

Thông tin bất cân xứng tồn tại ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống: thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, thị trường hàng hóa, thị trường lao động, đầu tư, thể thao,… Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory) được khởi xướng lần đầu tiên bởi Akerlof vào năm 1970 trong bài nghiên cứu “The Market for "Lemons": Quality Uncertainty and the Market Mechanism”, sau đó cùng với sự bổ sung của nhiều tác giả như Spense (1973) với “Job Market Signaling”, Joseph Stiglitz (1975), Akerlof và các cộng sự (2001),. Lý thuyết này đã khẳng định tầm quan trọng của mình khi trở thành trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Đặc biệt trong các nền kinh tế mà thị trường tài chính còn chưa phát triển như trong các nền kinh tế mới nổi, chưa phát triển, nơi mà tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng 9 thông tin yếu kém còn rất phổ biến. Thông tin bất cân xứng sẽ gây ra các hậu quả như: lựa chọn ngƣợc/bất lợi (Adverse Selection) xảy ra trong thị trường mà người bán hoặc người mua biết rõ hơn bên còn lại về tính chất của sản phẩm; rủi ro đạo đức (Moral Hazard): tình trạng cá nhân/tổ chức dựa trên việc người khác không thể quan sát được hành vi của mình có xu hướng gian dối, không trung thực; chi phí đại diện nêu ở trên.

Quan điểm chính của lý thuyết bất cân xứng thông tin rằng, rủi ro của người vay có tương quan thuận với kỳ hạn nợ và các công ty thường thích phát hành các khoản NNH. Lý thuyết bất cân xứng thông tin cho rằng, giải pháp có thể hạn chế bất cân xứng thông tin bao gồm: phát tín hiệu (Signling) và sự phù hợp (matching). - Lý thuyết tín hiệu: CTKHN là công cụ cung cấp tín hiệu về chất lượng của Công ty ra môi trường bên ngoài. Flannery (1986) cho rằng các Công ty sử dụng CTKHN để báo hiệu thông tin nội bộ về tình hình tài chính công ty, Ông cho thấy việc phát hành nợ ngắn hạn được thị trường đánh giá như là một tín hiệu tốt từ công ty do các nhà đầu tư tin rằng rút ngắn kỳ hạn thanh toán nợ có nghĩa là các công ty đầu tư có hiệu quả và có khả năng thanh toán tốt.

Công ty nắm giữ những thông tin tiêu cực sẽ ưu tiên vay nợ với kỳ hạn dài hơn để tránh các chi phí thương lượng và rủi ro thanh khoản. Lý thuyết tín hiệu đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới vận dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về CTKHN của các công ty tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, nền kinh tế mới nổi như nghiên cứu của Costa và cộng sự (2014), Lemma và Negash (2012), Mateurs và Terra (2013), Cai và cộng sự (2008). Trong những nghiên cứu này, lý thuyết tín hiệu được đại diện bởi tỷ lệ nợ, lợi nhuận, biến động thu nhập và tính thanh khoản. Do bối cảnh kinh tế của các quốc gia là khác nhau nên kết quả nghiên cứu cũng có sự khác nhau.

- Lý thuyết sự phù hợp: trong nghiên cứu “Các nhân tố quyết định vay mượn của công ty” Myers (1977) cho rằng sự phù hợp giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của các khoản nợ giúp công ty kiểm soát xung đột giữa các cổ đông và chủ nợ, góp phần giảm thiểu vấn đề đầu tư dưới mức. Đa dạng hóa tài sản có thể làm tăng khoản nợ mà công ty có thể vay. Tài sản có thể được xem như sự đảm bảo cho việc thanh toán nợ. Kỳ hạn của tài sản cần phải phù hợp với kỳ hạn của nợ.

Nghĩa là, mức độ nợ nên giảm tương ứng với việc sụt giảm trong giá trị của tài sản. Bằng lập luận khác nhưng Stohs và Mauer (1996) cũng đưa ra những kết luận tương tự về sự 10 phù hợp với kỳ hạn nợ. Khi công ty có kỳ hạn của tài sản dài hơn kỳ hạn của nợ, dòng tiền từ những tài sản của công ty sẽ không đủ để đáp ứng các khoản nghĩa vụ nợ. Tóm lại, lý thuyết sự phù hợp cho rằng các công ty cần đạt được sự phù hợp giữa kỳ hạn của nợ và kỳ hạn của tài sản nhằm giúp công ty giảm rủi ro thanh khoản khi đến hạn thanh toán nợ gốc.

Nói cách khác, khi hạn của nợ đến trước kỳ hạn của tài sản, dòng tiền thu được từ tài sản có thể không đủ để hoàn trả toàn bộ tiền nợ gốc. Ngược lại, nếu kỳ hạn của nợ dài hơn kỳ hạn của tài sản thì có một khoản nợ chưa thể thanh toán dù các dòng tiền thu được từ tài sản đã kết thúc. Do đó vấn đề về thanh khoản luôn tồn tại trong cả hai trường hợp. Lý thuyết sự phù hợp đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới vận dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, nền kinh tế mới nổi như nghiên cứu của Costa và cộng sự (2014), Terra (2011) … hay các nước thuộc khu vực Châu Á như nghiên cứu của Cai và cộng sự (2008).

Trong những nghiên cứu này, lý thuyết sự phù hợp được đại diện bởi tài sản hữu hình và kỳ hạn tài sản. Do bối cảnh kinh tế của các quốc gia là khác nhau nên kết quả nghiên cứu cũng có sự khác nhau.3 Ảnh hưởng của thuế lên CTKHN Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi suất mà DN phải trả trên nợ được miễn thuế. Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức chi trả khác cho chủ sở hữu đều bị đánh thuế. Nếu thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế DN phải trả, và vì thế tăng giá trị của DN lên.

Công ty sử dụng nhiều NDH khi cấu trúc kỳ hạn của lãi suất có hệ số gốc dương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Kỳ Hạn Nợ Của Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết, từ đó giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về cách thức quản lý nợ và tối ưu hóa nguồn lực tài chính. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố nội tại và ngoại tại ảnh hưởng đến quyết định vay nợ mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho việc xây dựng chiến lược tài chính hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế và quản lý tài chính, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, nơi cung cấp cái nhìn về phát triển kinh tế bền vững, hay Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh tại tổng công ty đầu tư nước và môi trường Việt Nam CTCP Viwaseen cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về cách nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực đầu tư và môi trường.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của kinh tế và quản lý tài chính tại Việt Nam.