MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều cần vốn để duy trì hoạt động hằng ngày cũng nhƣ phát triển sản xuất. Vốn là điều kiện, là cơ sở vật chất cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể tiến hành các kế hoạch đầu tƣ và các phƣơng án kinh doanh của mình. Một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lƣu động, nó là yếu tố bắt đầu và kết thúc của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển, tìm đƣợc một chỗ đứng vững chắc trên thị trƣờng, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải quan tâm đến vấn đề tạo lập và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn của mình. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình tài chính vĩ mô trong nƣớc có những diễn biến xấu đã khiến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh khiến cho nguồn vốn tự tài trợ không đủ, buộc doanh nghiệp phải vay nợ từ bên ngoài trong khi chi phí lãi vay giai đoạn này rất cao. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp tập trung tăng cƣờng khả năng quản trị vốn lƣu động để tăng cƣờng dòng tiền hoạt động nhằm tận dụng nguồn vốn đầu tƣ nội sinh cũng nhƣ nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Do vậy xác định đúng nhu cầu vốn lƣu động và quản trị nó đóng vai trò hết sức hữu ích đối với doanh nghiệp. Việc nắm rõ những nhân tố chính ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động sẽ giúp doanh nghiệp có sự điều tiết vốn hợp l hơn, giảm thiểu những khó khăn nhƣ hiện nay. Trong những năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện về đề tài vốn lƣu động. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy có rất nhiều nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp, tuy nhiên chiều hƣớng tác 2 động của một số nhân tố chính lại không có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu đƣợc thực hiện tại các quốc gia khác nhau, những nhân tố có ảnh hƣởng lớn đến nhu cầu vốn lƣu động có khả năng thay đổi theo đặc thù của nền kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung ở các quốc gia tƣơng đối phát triển, chỉ có một vài nghiên cứu đƣợc thực hiện ở các nƣớc đang phát triển. Tuy nhiên, môi trƣờng kinh doanh cũng nhƣ tình hình vĩ mô ở các nƣớc này không hoàn toàn đồng nhất với Việt Nam. Vì thế việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động của các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết. Việc xác định đƣợc các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lƣu động cũng nhƣ mức độ tác động của từng nhân tố sẽ giúp các doanh nghiệp có một bức tranh chính xác hơn về nhu cầu vốn lƣu động cũng nhƣ giúp dự báo nhu cầu vốn lƣu động trong kỳ tới.
Dựa theo đó, doanh nghiệp có thể lên kế hoạch vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lƣu động. Điều này sẽ giúp nâng cao tính chủ động trong công tác quản l tài chính, tiết kiệm đƣợc chi phí đi vay cũng nhƣ góp phần đảm bảo một cấu trúc tài chính lành mạnh; giúp nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp và góp phần tạo cơ sở cho việc tăng trƣởng trong tƣơng lai. Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy rằng mỗi nhóm ngành có những nhân tố ảnh hƣởng khác nhau và chiều hƣớng ảnh hƣởng của từng nhân tố đối với từng nhóm ngành riêng cũng không giống nhau. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động theo từng nhóm ngành cụ thể tại Việt Nam là thực sự cần thiết.
Có thể dựa trên các phân tích sâu hơn về đặc điểm của ngành để giải thích đƣợc rõ hơn mức độ cũng nhƣ chiều hƣớng tác động của các nhân tố, giúp doanh nghiệp của mỗi nhóm ngành có những hƣớng đi và chính sách cụ thể, phù hợp hơn. Ngành hàng tiêu dùng là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho nhu cầu ăn uống và nhu cầu sử dụng, tiêu dùng hằng ngày của con ngƣời. Tại Việt Nam, ngành sản xuất hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng rất 3 lớn trong các nhóm ngành, đang đƣợc đánh giá là có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ nhƣ hiện nay, sự cạnh tranh giữa các công ty trong và ngoài nƣớc ngày càng trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết.
Các sản phẩm tiêu dùng của Việt Nam phải cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp trong thị trƣờng phải đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lƣợng và đa dạng mặt hàng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lƣợng vốn lƣu động đủ lớn để giải quyết nhu cầu kinh doanh của mình. Việc nắm rõ các nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động để đƣa ra các quyết định phù hợp trong việc lên kế hoạch tìm nguồn tài trợ hợp l cho nhu cầu vốn lƣu động là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nƣớc ta để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập tốt với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt, đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc thực hiện tại Việt Nam.
Do vậy, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ng ên ứu á n ân tố ản ƣởng đến n u ầu vốn lƣu động ủ á o n ng ệp sản xuất àng t êu ùng đƣợ n êm yết trên t ị trƣờng ứng oán V ệt N m”. Mụ t êu ng ên ứu - Xác định và đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến nhu cầu vốn lƣu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Thông qua kết quả nghiên cứu lý giải các đặc tính riêng biệt trong nhu cầu vốn lƣu động đối với nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng (nếu có); từ đó có thể đƣa ra các hàm chính sách đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và đóng góp một số khuyến nghị cho việc mở rộng nghiên cứu liên quan đến đề tài này 4 trong tƣơng lai. Đố tƣợng và p ạm v ng ên ứu Đối tƣợng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên sàn thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn Hà Nội (HNX). - Phạm vi về mặt thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2016. P ƣơng p áp ng ên ứu Phƣơng pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các Báo cáo tài chính (theo năm) đã đƣợc kiểm toán cho giai đoạn nghiên cứu (2014-2016) của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX. Phƣơng pháp phân tích, xử l số liệu: Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để tiến hành phân tích, xử l.
Đầu tiên đƣa ra các thống kê mô tả cần thiết đối với các biến đƣợc nghiên cứu. Sau đó tác giả tiến hành phân tích định lƣợng, kiểm định sự tƣơng quan giữa các biến để kết luận các biến đƣợc đƣa vào mô hình. Cuối cùng sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi quy để ƣớc lƣợng mô hình đã chọn, kiểm định nghĩa của mô hình và các biến trong mô hình. Bố ụ đề tà Chƣơng 1: Cơ sở l luận về nhu cầu vốn lƣu động và các nhân tố ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp.
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. 5 Chƣơng 4: Hàm chính sách. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Trong những năm gần đây đã có các nghiên cứu về đề tài vốn lƣu động đƣợc thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới.
Để có cơ sở mở rộng và làm căn cứ vận dụng, nghiên cứu đề tài này tại Việt Nam, tác giả đã tập hợp những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và trong nƣớc, dựa vào các nghiên cứu trƣớc để phân tích, dự đoán những nhân tố chính có ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu của Hawawini và cộng sự (1986) đƣợc thực hiện trên 1181 công ty thuộc 36 ngành khác nhau tại Mỹ trong giai đoạn 1960 - 1979 [11] đã cho thấy nhu cầu vốn lƣu động của từng ngành là rất khác nhau, nó phản ánh bản chất của từng ngành và tƣơng đối ổn định theo thời gian. Chiou và cộng sự (2006) thu thập dữ liệu tại sàn giao dịch chứng khoán Đài Loan của 19.180 doanh nghiệp, trong thời kỳ 1996-2004 [8]. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng hệ số nợ và dòng tiền hoạt động có ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn lƣu động và các hệ số khác nhƣ chỉ số kinh doanh, đặc điểm ngành, tăng trƣởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp không có tác động đến nhu cầu vốn lƣu động.
Theo nghiên cứu của Nazir và Afza (2009) tại Pakistan [14], tác giả bài viết đã khẳng định nhu cầu vốn lƣu động rất quan trọng và nếu không đƣợc quản l thích hợp sẽ gây ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện trên 132 công ty sản xuất thuộc 14 nhóm ngành khác nhau đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 2004-2007 và đã đƣa ra đƣợc kết quả rằng: Chu kỳ hoạt động, đòn bẩy tài chính, ROA và chỉ số Tobin’s Q là những nhân tố nội tại có ảnh hƣởng đáng kể đến nhu cầu vốn lƣu động của doanh 6 nghiệp. Tác giả đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa Nhu cầu vốn lƣu động với Chu kỳ hoạt động, Tobin’s Q, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, và ngành công nghiệp mà công ty đang hoạt động (mức độ yếu); và mối quan hệ nghịch chiều giữa Nhu cầu vốn lƣu động với Đòn bẩy tài chính.