Chương 1 lưu động và nợ ngắn hạn 3.Nhu cầu vốn lưu động Nhu cầu tài trợ cho tài Chương 2 & 3 sản lưu động trong ngắn hạn bằng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital) Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định thì còn cần phải có các tài sản lưu động khác như: tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải thu… Phần vốn doanh nghiệp bỏ ra tương ứng với tài sản lưu động hiện có được gọi là vốn lưu động. Như vậy vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp. Vốn lưu động được xem là một tiền đề cho sự tồn tại của bất kỳ doanh nghiệp nào (Bhunia, 2010).
Doanh nghiệp không thể hoạt động bình thường nếu thiếu một lượng vốn lưu động nhất định. Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động liên tục thay đổi hình thái biểu hiện từ tiền mặt, đến hàng tồn kho, khoản phải thu và quay trở lại hình thái tiền mặt. Vai trò của vốn lưu động của doanh nghiệp Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. Để quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, doanh nghiệp phải tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của tài sản lưu động và phải có đủ vốn lưu động cũng như có một sự bố trí hợp lý về các thành phần của tài sản lưu động.
Vốn lưu động là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động của vật tư. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật tư. Vốn lưu động nhiều hay ít, tốc độ luân chuyển nhanh hay chậm sẽ phản ánh số lượng vật tư tồn trữ ở các khâu nhiều hay ít, việc sử dụng vật tư có tiết kiệm hay không. Thông qua tình hình luân chuyển vốn lưu động ta có thể thực hiện kiểm tra việc cung cấp sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn là yếu tố nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro, hư hỏng, mất mát vật tư, biến động giá cả. Nếu quy mô vốn lưu động của doanh nghiệp đủ lớn và hợp lý sẽ đảm bảo việc làm chủ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Phân loại vốn lưu động a.
Phân loại theo nguồn hình thành Vốn lưu động có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, cả dài hạn lẫn ngắn hạn. Các nguồn chủ yếu hình thành vốn lưu động gồm nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. - Nguồn vốn thường xuyên: là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có quyền sử dụng trong dài hạn. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn.
- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn mà doanh nghiệp phải trả trong một chu kỳ kinh doanh bình thường, bao gồm vốn vay nợ ngắn hạn và các khoản phải trả. 10 Ngoài ra, các nguồn hình thành vốn lưu động còn có thể được phân ra thành nguồn vốn tức thì (spontaneous fund) và nguồn vốn ổn định (non- spontaneous fund). - Nguồn vốn tức thì: là các nguồn vốn hình thành một cách tự phát trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Nguồn vốn tức thì bao gồm chủ yếu là các khoản phải trả người bán và các khoản dự phòng phải trả.
- Nguồn vốn ổn định: là các nguồn vốn hình thành theo kế hoạch định trước của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tương đối chủ động trong việc lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn ổn định. Nguồn vốn ổn định bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Phân loại theo hình thái biểu hiện Tài sản lưu động là hình thái biểu hiện của vốn lưu động.
Vốn lưu động có thể có các hình thái biểu hiện chủ yếu gồm: - Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi trong tài khoản thanh toán của ngân hàng và các khoản tương đương tiền mặt. - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn - Các khoản phải thu: bao gồm phải thu khách hàng, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. - Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang và thành phẩm, hàng hóa tồn kho - Các tài sản lưu động khác c. Phân loại theo tính chất thường xuyên Vốn lưu động có thể được phân thành vốn lưu động thường xuyên (Permanent Working Capital) và vốn lưu động tạm thời (Temporary Working Capital).
11 Vốn lưu động thường xuyên là phần vốn lưu động mà doanh nghiệp có nhu cầu nắm giữ thường xuyên trong thời gian dài. Vốn lưu động thường xuyên có hai khía cạnh giống với tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Thứ nhất, đầu tư vào vốn lưu động thường xuyên là một đầu tư mang tính dài hạn. Thứ hai, nhu cầu với vốn lưu động thường xuyên sẽ tăng lên khi doanh nghiệp phát triển, cũng giống như với tài sản dài hạn.
Vốn lưu động tạm thời là phần vốn lưu động mà doanh nghiệp cần đầu tư trong một khoản thời gian ngắn và mang tính mùa vụ.1 biểu diễn bằng đồ thị vốn lưu động thường xuyên và vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp. Đồ thị biểu diễn vốn lưu động thường xuyên và vốn lưu động thời vụ của doanh nghiệp theo thời gian (Nguồn: Fundamentals of Financial Management, Van Horne và Wachowicz, 2008) 12 1. Vốn lưu động ròng của doanh nghiệp (Net Working Capital) Vốn lưu động ròng được định nghĩa bằng sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn hoặc bằng nguồn vốn thường xuyên trừ đi tổng các tài sản dài hạn. Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn (1) Trong đó: · Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động, là các tài sản có tính lỏng cao nhất của doanh nghiệp bởi các tài sản này là tiền mặt hoặc có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt với một mức chi phí hợp lý.
· Nợ ngắn hạn là các khoản nợ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong một chu kỳ kinh doanh bình thường (thường là 1 năm). Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn thường xuyên – Tổng tài sản dài hạn (2) Trong đó: · Tổng tài sản dài hạn bao gồm các tài sản và đầu tư tài chính dài hạn. · Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay nợ dài hạn. Theo cách tính (1), vốn lưu động ròng là chỉ tiêu đánh giá tương quan giữa nguồn vốn tạm thời và tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Nó là phần còn lại của tài sản ngắn hạn hiện tại sau khi trừ đi giá trị các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó đại diện cho biên an toàn nhằm đảm bảo doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Vốn lưu động ròng là một thước đo phổ biến nhằm đo lường tính thanh khoản và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp. Ø Nếu vốn lưu động ròng dương có nghĩa là doanh nghiệp có đủ giá trị tài sản trên sổ sách để thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Một doanh nghiệp có vốn lưu động dương được coi là có khả năng thanh khoản tốt. 13 Ø Nếu vốn lưu động ròng âm có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không có đủ khả năng hoàn trả các nguồn vốn ngắn hạn nếu chúng đáo hạn cùng lúc, đây là dấu hiệu của doanh nghiệp có tính thanh khoản kém. Ø Nếu vốn lưu động ròng bằng 0 có nghĩa là doanh nghiệp có vừa đủ tài sản để trang trải các khoản nợ của mình. Thực tế, các doanh nghiệp có vốn lưu động ròng bằng 0 vẫn thường được xem là có tính thanh khoản kém.
Theo cách tính (2), vốn lưu động ròng thể hiện cân bằng giữa nguồn vốn ổn định và các tài sản có thời gian chu chuyển lớn hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường hoặc một năm. Chỉ tiêu này thể hiện nguồn gốc của vốn thường xuyên góp phần vào việc hình thành vốn lưu động: Ø Nếu vốn lưu động ròng dương có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên có thể tài trợ cho toàn bộ tài sản dài hạn. Phần chênh lệch sẽ được sử dụng để tài trợ một phần tài sản lưu động. Trong trường hợp này doanh nghiệp có cân bằng tài chính tốt.
Ø Nếu vốn lưu động ròng âm có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho toàn bộ tài sản dài hạn. Doanh nghiệp phải sử dụng một phần nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho các tài sản dài hạn. Trong trường hợp này doanh nghiệp có cân bằng tài chính xấu. Ø Nếu vốn lưu động ròng bằng 0 nghĩa là doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính, nguồn vốn thường xuyên vừa đủ tài trợ cho các tài sản dài hạn.
Trong trường hợp này doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính. Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital Policy) Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp có tác dụng như một định hướng giúp nhà quản lý ra các quyết định về xác định mức độ đầu tư cho tài sản lưu động, cấu trúc thành phần các tài sản lưu động cũng như cấu trúc nguồn vốn hình thành vốn lưu động. Một chính sách vốn lưu động là một 14 sự đánh đổi giữa lợi ích và rủi ro của nhà quản lý (Van Horne và Wachowicz, 2008). Với một chính sách vốn lưu động xác định trước, nhà quản lý thường định ra một mức độ tài sản lưu động cần thiết, cấu trúc vốn lưu động cũng như các phương án vay nợ để tài trợ vốn lưu động theo kế hoạch.
Sau đó, các chỉ tiêu này trong thực tế sẽ được kiểm soát và điều chỉnh về mức kế hoạch. Do đó, tùy theo chính sách quản lý vốn lưu động trung dung, năng nổ hay thận trọng sẽ có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp. Theo Arnold Glen, 2008, “Corporate financial management”, tái bản lần thứ 4, chính sách vốn lưu động có thể được phân thành 3 loại: chính sách vốn lưu động cẩn trọng (conservative), chính sách vốn lưu động năng nổ (aggressive) và chính sách vốn lưu động trung dung (moderate). · Chính sách vốn lưu động năng nổ Doanh nghiệp theo đuổi chính sách vốn lưu động năng nổ sẽ tối thiểu hóa đầu tư vào vốn lưu động đồng thời tài trợ tất cả tài sản lưu động tạm thời và một phần tài sản lưu động thường xuyên bằng các khoản nợ ngắn hạn.