CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn Tài sản là thứ thiết yếu đối với mọi doanh nghiệp.
Dù là doanh nghiệp nhỏ hay doanh nghiệp lớn đều cần có tài sản để duy trì hoạt động cũng như mở rộng quy mô. Tài sản của một doanh nghiệp gồm hai bộ phận: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Khác với tài sản dài hạn được nắm giữ trong thời gian dài (trên 1 năm), tài sản ngắn hạn luôn vận động và chuyển hóa không ngừng để giúp cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục và không bị gián đoạn. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, TSNH được thể hiện ở các bộ phận: tài sản bằng tiền, các chứng từ có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.
Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC Chế độ Kế toán doanh nghiệp, TSNH là “những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm”.TS Lưu Thị Hương (2013), giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội, trang 214-215 nêu rõ “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu. Cũng nhưtài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói hay phụ tùng thay thế.
Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thế luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục”. Tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị thuần của tất cả tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp. Đây là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn, thường là một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nguyễn Năng Phúc (2013), giáo trình “Phân tích báo cáo tài chính”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà 8 Nội, trang 99 chỉ ra một tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản đó thỏa mãn một trong số những yếu tố sau: Một là, tài sản này được dự tính để bán hoặc sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp.
Hai là, tài sản này được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từngày kết thúc niên độ. Ba là, tài sản đó là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không không gặp một hạn chế nào. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp các công đoạn của quá trình sản xuất. Điều này nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, không bị đứt gây tổn thất vốn và duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mức ổn định.
Một trong những đặc điểm nổi bật của TSNH là luôn vận động không ngừng, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt quá trìnhkinh doanh và giá trị của TSNH được chuyển hóa toàn bộ vào giá trị sản phẩm khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2013), giáo trình “Tài chính doanh nghiệp”, NXB Tài chính đưa ra một số đặc điểm chính của tài sản ngắn hạn như sau: Một là, tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh, đây là đặc điểm dễ nhận biết và phân biệt với tài sản dài hạn. Nguyễn Thị Đông, “Hạch toán kế toán trong doanh nghiệp”, Hà Nội, năm 2008, trang 18 đưa ra định nghĩa về tài sản dài hạn “tài sản dài hạn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộnhững tài sản của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển dài (thường là trên 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh)”. Hai là, tài sản ngắn hạn sẽ chuyển hết toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Do đó, mọi chi phí phát sinh trong quá trình chuyển hóa tài sản ngắn hạn thành sản phẩm hoàn thiện đều được ghi nhận vào giá thành của sản phẩm. 9 Ba là, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra sản phẩm, đây là đặc điểm dễ thấy của tài sản ngắn hạn, đặc biệt đối với các doanhnghiệp tập trung vào lĩnh vực sản xuất. Bốn là, các loại tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ chuyển đổi thành tiền mặt hoặc các tài sản tương đương tiền. Phân loại tài sản ngắn hạn Để có thể nắm rõ và quản lý tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả và khoa học nhất, việc phân loại là vô cùng cần thiết.
Tùy vào mục đích của nhà quản lý, tài sản ngắn hạn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trong đó, theo giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” của Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2015), có hai tiêu thức phân loại thường được sử dụng: Phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnhđó, phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán cũng là một trong những tiêu thức được sử dụng phổ biến a. Phân loại theo hình thái biểu hiện Dựa vào hình thái biểu hiện, tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Tiền được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở Ngân hàng, tiền đang chuyển.
Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Nhưng bản thân tiền mặt lại là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi, do vậy cần duy trì tiền mặt ở mức độ hợp lý để tránh lãng phí vốn. Các khoản tương đương tiền: bao gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền nhất định và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Phản ánh tổng giá trị thuần có thể thực hiện được của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm 10 giá chứng khoán). Đây là khoản đầu tư của doanh nghiệp bên ngoài, được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,.) có thời hạn sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh kể từ thời điểm lập báo cáo. Các khoản phải thu Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác ở thời điểm báo cáo, có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường. Trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, việc mua bán chịu giữa các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi.
Đôi khi, để thực hiện các bản hợp đồng kinh tế, các doanh nghiệp phải ứng trước một số hàng hóa hoặc một khoản tiền nào đó, và nhận lại tiền hoặc hàng hóa sau một thời gian xác định mà hai bên thỏa thuận, từ đó hình thành nên các khoản phải thu của doanh nghiệp. Các khoản phải thu trong doanh nghiệp gồm có: phải thu từ khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác. Trong đó, chiếm tỷ trọng chủ yếu là các khoản phải thu khách hàng, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại. Khoản mục này xuất hiện khi doanh nghiệp bán hàng hóa cho khách hàng thanh toán chậm trong một thời gian nhất định.
Tín dụng thương mại được doanh nghiệpsử dụng như một công cụ nhằm thu hút khách hàng, duy trì và mở rộng thị trường, tăng khối lượng hàng hóa bán ra. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng cho khách hàng cũng có thể kéo theo nhiều chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp nếu khách hàng gặp thất bại, rủi ro trong kinh doanh. Hàng tồn kho Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được lưu giữ và sử dụng để sản xuất hoặc tiêu thụ. trong quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt độngbình thường của doanh nghiệp.
11 Hàng tồn kho gồm ba loại: + Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: gồm vật tư dự trữ như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ dụng cụ… + Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: gồm các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm. + Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: gồm các thành phẩm. Đây là giá trị những sản phẩm đã sản xuất trong đạt tiêu chuẩn được nhập kho. Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ sẽ khác nhau.
Đối với doanh nghiệp thương mại, tồn kho chủ yếu là thành phẩm chờ tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp sản xuất, tồn kho chủ yếu là vật tư dự trữ sản xuất và sản phẩm dở dang. Cách phân loại này cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp; nắm được kết cấu tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý, hiệu quả.