CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch Sử Nghiên Cứu Đề Tài: Ngoài nước: Nghiên cứu “Giao tiếp giữa cha mẹ với con cái tuổi thiếu niên về quan hệ giới tính: một cơ hội bị lỡ?” của nhóm tác giả Eisenberg, Maria E.; Swain, Carolyne; Resnick, Michael D. cho rằng qua những phát biểu của cha mẹ và con cái tuổi thiếu niên cho thấy: cha mẹ có thể bị bỏ mất cơ hội quan trọng để gây ảnh hưởng đến cách xử sự, và cha mẹ nên nói chuyện thẳng thắn với con về giới tính trước khi họ nhận thức được rằng chúng đang gặp rắc rối trong quan hệ giới tính. trong nghiên cứu “Những câu hỏi mà trẻ thiếu niên muốn hỏi cha mẹ của mình” đã nêu lên rằng: Tuổi trẻ cần sự lo lắng, quan tâm của cha mẹ để hướng dẫn chúng vượt qua những thay đổi và giải quyết nó ra sao.
Cuộc nghiên cứu đã tìm thấy số phần trăm lớn nhất thuộc về những câu hỏi liên quan đến gia đình. Qua cuộc nghiên cứu “Giao tiếp giữa cha mẹ và con cái… và việc giới trẻ dính vào nghiện hút”, các tác giả Kathleen J. Kelly, Maria Leonora G. Comello và Liza C.
Hunn đã đi đến kết luận: Quan hệ giao tiếp tích cực là yếu tố cực kỳ quan trọng. Trong những gia đình nào có người nghiện rượu thường được xem là quá mức thì các cuộc giao tiếp giữa cha mẹ và con cái thiếu nồng ấm và thiếu chú ý đến nhu cầu và tình cảm của trẻ. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy trẻ thiếu niên nào có các cuộc giao tiếp thường xuyên, cởi mở và tích cực trong gia đình thì đều ít có xu hướng dính líu tới ma tuý. Các cuộc nghiên cứu ấy còn chứng minh mức độ quan trọng của lời khen và khuyến khích từ các bậc cha mẹ sẽ giúp cho trẻ biết từ chối ma túy.
-8- Trong nước: Khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu stress ở cha mẹ tuổi trung niên trong giao tiếp với con cái tuổi thiếu niên” của Trần Thuý Vy có kết luận rằng: Cha mẹ lứa tuổi trung niên trong giao tiếp với con cái lứa tuổi thiếu niên cũng gây ra sự căng thẳng ở một chừng mực nào đó đối với người trung niên. Nguyên nhân đưa đến stress là do từ hai phía cha mẹ và con cái. Cha mẹ trung niên có sự suy giảm về sức khoẻ do những thay đổi đột ngột về sinh lý dẫn đến những biến động trong tâm lý con người. Còn con cái lứa tuổi thiếu niên thì lại gắn liền với sự “khủng hoảng” cả về mặt sinh lý và tâm lý.
Vũ Khánh Linh trong nghiên cứu “Thực trạng về phong cách giáo dục của cha mẹ học sinh trường THCS Trần Đăng Ninh-Tp. Nam Định” 1 cho rằng: Lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ chuyển tiếp, thời kỳ quá độ của tuổi thơ lên tuổi trưởng thành, có sự chuyển biến rất lớn về sự phát triển cơ thể, tâm lý và xã hội. Đây cũng là lứa tuổi có nhiều khủng hoảng. Chính những điều đó gây ra rất nhiều khó khăn trong việc giáo dục con cái của các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi này.
Do thiếu kiến thức về sự phát triển tâm-sinh lý của trẻ, thiếu hiểu biết về những biện pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi, nên có một số phụ huynh có phong cách giáo dục độc đoán, nghiêm khắc, không quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của trẻ, luôn ép trẻ thực hiện theo ước muốn của mình. Một số khác lại thả nổi cho trẻ làm theo tự do và làm theo ý mình. Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong nghiên cứu “Stress trong học tập của học sinh phổ thông trung học” 2 cho thấy học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập, tu dưỡng, định hướng giá trị cho bản thân, tình cảm trong các mối quan hệ với bạn bè, với cha mẹ và thầy cô. Stress có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình và kết quả học tập.
Trước những căng thẳng tâm lý đó, các em xuất hiện nhu cầu cần được chia sẻ, trợ giúp, tham vấn của những người có hiểu biết. 1 Tạp chí Tâm Lý Học, số 12 (105), 12- 2007, tr. 2 Tạp chí Tâm Lý Học, số 12 (105), 12-2007, tr. -9- Nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước đã có quan tâm nhiều đến mối quan hệ giao tiếp giữa cha mẹ và con cái lứa tuổi thiếu niên.
Một số nghiên cứu của các tác giả ngoài nước nói trên đã cho thấy tầm quan trọng của việc đối thoại giữa cha mẹ và con cái, của sự đón đầu trong giáo dục và những vấn đề mà lứa tuổi này gặp phải, đồng thời cũng đưa ra một số vấn đề cần được sự quan tâm, giúp đỡ từ phía cha mẹ. Tuy nhiên, các đề tài này mới chỉ nêu lên những kiến nghị cho các bậc cha mẹ cách chung chung chứ chưa cụ thể cho một nơi nào cụ thể. Còn các nghiên cứu trong nước nói trên đã có nêu lên những thực trạng về phong cách giáo dục của cha mẹ, những vấn đề phức tạp, căng thẳng của cha mẹ và con cái lứa tuổi thiếu niên, nhưng các nghiên cứu này lại chưa đưa ra những kiến nghị và giải pháp cho những thực trạng ấy. Chính vì vậy mà trong nghiên cứu này, tôi tiến hành nghiên cứu về thực trạng nhu cầu cần được lắng nghe-chia sẻ trong mối quan hệ giao tiếp giữa cha mẹ với con cái của học sinh THCS trường THCS Trần Quốc Toản, Q.9, thành phố Hồ Chí Minh, để tìm hiểu về mức nhu cầu cần được lắng nghe-chia sẻ, đâu là vấn đề mà tuổi thiếu niên muốn tâm sự-chia sẻ nhiều nhất, chúng cần được quan tâm, lắng nghe, giúp đỡ như thế nào và thực tế chúng đã được cha mẹ đáp ứng nhu cầu ấy đến đâu.
Và từ đó đưa ra một vài giải pháp, kiến nghị với mong muốn giúp đỡ cho quá trình giao tiếp giữa cha mẹ và con cái hữu hiệu hơn. Nhu cầu: Theo định nghĩa của Philip Kotler: Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Hay còn có một định nghĩa khác về nhu cầu: nhu cầu là mối quan hệ tích cực giữa cơ thể và môi trường cụ thể đó là sự đòi hỏi cần được đáp ứng để cơ thể tồn tại và phát triển. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp và có thể xem xét từ những góc độ khác nhau.
Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã phân chia thành thứ bậc của các nhu cầu. Theo ông, con người ta cố gắng - 10 - thoả mãn được những nhu cầu quan trọng nhất và khi nhu cầu nào đó đã được thoả mãn thì lại xuất hiện sự đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu tiếp theo. Nhu cầu có tính chu kì, khi một nhu cầu nào đó được đáp ứng nó không dừng lại, mà nó sẽ lặp lại. Những nhu cầu sau đòi hỏi được đáp ứng ở mức cao hơn so với nhu cầu trước.
Chính điều này buộc con người luôn phải tích cực hoạt động. Nhu cầu luôn phản ánh điều kiện sống xã hội, một nhu cầu nảy sinh phải phù hợp và phản ánh tương đồng với điều kiện xã hội. Nhu cầu nảy sinh khi điều kiện xã hội cho phép, xã hội điều chỉnh để tạo điều kiện cho nhu cầu nảy sinh và thỏa mãn, và quan trọng là nhu cầu phù hợp với điều kiện xã hội cho phép. Nhu cầu luôn có đối tượng cụ thể, nhận thức được nhu cầu của mình cách rõ ràng: “Nhu cầu đó là gì? Để thỏa mãn được nhu cầu đó con người phải sử dụng những phương cách nào? Nhu cầu đó có phù hợp với điều kiện cho phép không?”.
Nhận thức được điều ấy để con người điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình đến những hành động tích cực. Lắng nghe: Lắng nghe là hoạt động có ý thức của con người, khi lắng nghe con người điều chỉnh các bộ phận cơ thể để tập trung, chú ý vào đối tượng đang tri giác. Lắng nghe không đồng nhất với nghe. Nghe chỉ là một hoạt động vô ý thức của con người.
Chúng ta nghe những âm thanh xung quanh nhưng không nhất thiết phải hiểu chúng. Lắng nghe thì lại khác. Lắng nghe là một khả năng của hệ thần kinh. Khi lắng nghe chúng ta đã chuyển những gì nghe được thành một dạng dễ hiểu và dễ sử dụng.
Như vậy, lắng nghe không phải là một hành động thụ động, mà ngược lại, có sự tương tác qua lại với nhau. Mục tiêu chính để lắng nghe là hiểu, học hỏi, thưởng thức, giúp đỡ và hỗ trợ 3. Khi lắng nghe chúng ta thấu cảm được mình và người khác. Khi lắng nghe tư tưởng con người ở trạng thái khách quan và đưa ra những quyết định sáng suốt.
Chính trong quá trình lắng nghe, con người tự chủ và ý thức hơn trong 3 Google: x. lắng nghe hiệu quả. - 11 - việc điều chỉnh hành vi và lời nói của mình. Lắng nghe giúp cho giao tiếp có hiệu quả và giúp con người phát triển kỹ năng giao tiếp.
Tâm sự, chia sẻ: Tâm sự là nói cho người khác biết những chuyện riêng, những ý nghĩ và tình cảm riêng tư sâu kín trong lòng của mình 4. Chia sẻ được hiểu là cùng chung chịu hoặc chung hưởng những vui sướng hay khổ đau như chia sẻ buồn vui trong cuộc sống, chia sẻ những kinh nghiệm sống ở đời… 5 1. Giao tiếp: Giao tiếp là một quá trình thiết lập và vận hành quan hệ giữa người với người nhằm hiện thực hóa các quan hệ xã hội 6. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người.
Qua giao tiếp, con người tiếp thu kinh nghiệm xã hội lịch sử, biến nó thành vốn tâm lí và nhân cách của mình. Trên cơ sở đó, con người đóng góp tài lực của mình vào cho xã hội. Qua giao tiếp, con người còn nhận thức được người khác và nhận thức được bản thân mình. Trên cơ sở đó, con người tự giác với chính mình và ứng xử với người khác dựa trên cơ sở của các chuẩn mực xã hội.
Lứa tuổi thiếu niên: Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi trung học cơ sở, bao gồm những trẻ em từ 12, 13 tuổi đến 15, 16 tuổi đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường trung học cơ sở. Do sự trưởng thành và tích lũy ở những giai đoạn trước, thiếu niên đã có một vị trí xã hội mới: không hoàn toàn là trẻ con nhưng cũng không phải là một người lớn. Đây là giai đoạn quá độ từ trẻ em sang người lớn, là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì nam nữ. Đại từ điển Tiếng Việt, tr.
Đại từ điển Tiếng Việt, tr. 6 Trần Thúy Vy. 7 Nguyễn Ánh Hồng.