CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 1. Lịch sử thực hành quyền công tố ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện công tố đã được thành lập, mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Năm 1946, căn cứ vào Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, tổ chức Viện Công tố được thành lập trong hệ thống Tòa án từ cấp tỉnh trở lên và trực thuộc Bộ Tư pháp. Năm 1946, căn cứ vào Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, tổ chức Viện Công tố được thành lập trong hệ thống Tòa án từ cấp tỉnh trở lên và trực thuộc Bộ Tư pháp.
Đến năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chuẩn bị bước vào thời kỳ xây dựng đất nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở Nghị quyết ngày 29/4/1958 của Quốc hội khóa I, Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959, Nghị định số 321/TTg ngày 02/7/1959 của Chính phủ, tổ chức cơ quan tư pháp được tách ra làm 3 hệ thống cơ quan riêng biệt đó là: Tư pháp, Công tố và Tòa án từ Trung ương đến huyện. Hệ thống Viện công tố tách khỏi tổ chức của Tòa án và sự quản lý của Bộ Tư pháp. Song chức năng chủ yếu của Viện Công tố là đưa vụ án ra Tòa.
Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến Viện công tố nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự. Trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam, năm 1959 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Hiến pháp mới, trong đó có quy định về hệ thống cơ quan tư pháp. Hiến pháp năm 1959 quy định việc tổ chức lại các cơ quan Nhà nước trong đó xác định hệ thống tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân được xây dựng, hoạt động có chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Cùng với Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định một chức năng duy nhất của Viện kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất …, vì vậy “thực hành quyền công tố” là một biện pháp pháp lý nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Ngày 01/7/1963, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TƯ, đây là một văn kiện đặc biệt quan trọng chỉ đạo đường lối thực 6 hiện chức năng, nhiệm vụ cơ bản của ngành Kiểm sát nhân dân, trong đó có công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 tuy chưa phân định rõ “ thực hành quyền công tố” với “ kiểm sát điều tra” nhưng đã quy định khái quát và đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự giúp cho ngành Kiểm sát tuy mới ra đời, nhưng đã hoạt động tích cực và sáng tạo, phát huy được tác dụng của pháp luật trong việc phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Sau khi miền Nam được giải phóng năm 1975, trước yêu cầu của tình hình mới, cả nước thống nhất cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội cho nên Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm 1980.
So với Hiến pháp năm 1959 thì vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân được khẳng định rõ hơn và có những điểm bổ sung mới trong Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1980 đã nhấn mạnh đến chức năng “ thực hành quyền công tố” của Viện kiểm sát. Điều 138 Hiến pháp quy định: “ Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân”. Công cuộc đổi mới đất nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã mở ra cho đất nước một kỷ nguyên phát triển.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đã ra đời. Một số quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát có sửa đổi, nhưng chức năng công tố vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm, tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố Nhà nước. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được xử lý theo pháp luật.
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập các khâu công tác trong đó có công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát 7 việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của cơ quan điều tra và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Nhiệm vụ, quyền hạn của công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Có thể nói, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, sau đó được sửa đổi, bổ sung năm 2002 đã kế thừa và phát triển so với các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đây. Căn cứ vào Hiến pháp 1992 sửa đổi, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân lần này đã quy định rõ Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng là “ thực hành quyền công tố” và “ kiểm sát các hoạt động tư pháp”, đồng thời đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đã tách bạch được cơ bản nội dung của công tác thực hành quyền công tố và nội dung của công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.
Như vậy, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là một chức năng quan trọng đã được ghi nhận và quy định cụ thể trong Hiến pháp, ở Việt Nam chức năng thực hành quyền công tố từ trước đến nay vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát thực hiện. Nhận thức chung về thực hành quyền công tố và giai đoạn điều tra Để có thể hiểu rõ chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, trước hết chúng ta cần có được nhận thức chung về thực hành quyền công tố nói chung của Viện kiểm sát là như thế nào? Có thể nói, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện ở nhiều giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó có giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Khái niệm thực hành quyền công tố và nhận thức về giai đoạn điều tra 1.
Khái niệm thực hành quyền công tố Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Giải quyết được rõ ràng các vấn đề trên giúp cho việc nhận thức đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng, qua đó sẽ xác định được chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan 8 trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp. Theo nhận thức của chúng tôi, trên mỗi lĩnh vực quyền lực Nhà nước cụ thể, Nhà nước tổ chức ra một hệ thống các cơ quan nhất định để thực hiện quyền lực đó.
Hệ thống các cơ quan này đóng vai trò chính trong sự phối hợp với các cơ quan Nhà nước khác để thực hiện quyền lực đã được xác định. Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định pháp luật của Nhà nước ta từ năm 1960 đến nay thì Viện kiểm sát nhân dân chính thức là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố. Thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố mấy mươi năm qua của Viện kiểm sát nhân dân các cấp cho thấy, 100% các vụ án hình sự đều do Viện kiểm sát truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên tòa theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, cùng với những hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn được hợp lý và hợp pháp, có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của Cơ quan điều tra và Tòa án. Viện kiểm sát được áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội (Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).