CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về hiệu quả tài chính 1. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả tài chính 1. Khái niệm hiệu quả Hiệu quả theo tiếng Anh là “Efficiency” là đánh giá qua kết quả thực hiện hoạt động ở hiện tại so với kế hoạch dự kiến.
Khi hoạt động được coi là có hiệu quả, có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động. Hiệu quả theo từ điển tiếng Việt là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi, nó có nội dung khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong sản xuất, hiệu quả là hiệu suất, năng suất.
Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Xét theo góc độ chuyên môn, hiệu quả theo nghĩa kinh tế là: “Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hoá dịch vụ”. Hay nói cách khác là hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Công thức: H = K/C Trong đó: H – Hiệu quả. K – Kết quả đạt được. C – Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó. Khái niệm hiệu quả tài chính Có một số quan điểm về hiệu quả tài chính: Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả tài chính dùng để chỉ hiệu quả của việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh ( Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2001).
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động vốn. Quan điểm thứ ba: Hiệu quả tài chính là thước đo khách quan đánh giá mức độ doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản từ phương thức kinh doanh chính và tạo ra doanh thu. Thuật ngữ này được sử dụng như một thước đo chung về sức khoẻ tài chính tổng thể của doanh nghiệp trong thời kì nhất định (Will ,2021). Các quan điểm tuy có sự khác biệt nhất định nhưng dù theo quan điểm nào thì thực chất hiệu quả tài chính vẫn là phản ánh mối quan hệ so sánh giữa các kết quả đầu ra (lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được) với các yếu tố đầu vào (chi phí bỏ ra để có được lợi ích đó) của các doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Hiệu quả tài chính cao sẽ đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp, chứng tỏ khả năng huy động, quản lý cũng như sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp rất tốt. Do vậy, nâng cao hiệu quả tài chính luôn là mục tiêu của các nhà quản trị, là một vấn đề quan tâm của các nhà đầu tư bên trong, bên ngoài doanh nghiệp và cả các bên liên quan. Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự an toàn tài chính trong doanh nghiệp, đánh giá tài sản, nguồn vốn từ đó giúp nhà đầu tư có những cái nhìn chính xác để đưa ra quyết định đầu tư hay điều chỉnh hợp lí. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính Bảng 1.1: Một số các nghiên cứu về thước đo hiệu quả tài chính Thước đo Tham chiếu các nghiên cứu Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản- Liargovas và Skandalis, 2008 ROA Hu, Y & Izumida, 2008 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu- Liargovas và Skandalis, 2008 ROE Hu, Y & Izumida, 2008 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu- ROS Liargovas và Skandalis, 2008 Le, TV & Buck, 2011 Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư – ROI Shah và cộng sự, 2011 Lợi suất cổ tức- DY Ming & Gee, 2008 Ongore & VO, 2011 Hệ số giá trị thị trường - Marris và Zeiturn & Tian, 2007 Tobin’ s Q Jiraporn và cộng sự, 2008 (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Từ trước đến nay việc đánh giá hiệu quả tài chính cũng như là sử dụng công cụ nào để đo lường hiệu quả tài chính luôn là một vấn đề được đề cập rất nhiều trong các thảo luận về tài chính doanh nghiệp và luôn gây ra nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến khác nhau.
Vì vậy, việc lựa chọn thước đo nào để đo lường hiệu quả tài chính là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Có rất nhiều các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp. Nhưng trong các nghiên cứu trước đây có hai nhóm chỉ tiêu thường được sử dụng nhiều nhất đó là: Nhóm chỉ tiêu thứ nhất là các hệ số giá trị kế toán hay còn gọi là đo lường hiệu quả tài chính bằng chỉ tiêu lợi nhuận, nhóm chỉ tiêu thứ hai gồm các mô hình kinh tế dựa trên giá trị thị trường hay còn gọi là các hệ số về tăng trưởng tài sản. Nhóm chỉ tiêu thứ nhất: đo lường hiệu quả tài chính bằng chỉ tiêu lợi nhuận.
Đó là tỷ suất giữa kết quả đầu ra (thu nhập, lợi nhuận) và các yếu tố đầu vào (tài sản, 6 nguồn vốn, vốn chủ sở hữu). Hai chỉ tiêu thường được dùng nhiều nhất để đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Giá trị của hai hệ số này có thể phụ thuộc vào cách các tác giả sử dụng lợi nhuận nào để tính toán. Rất nhiều nhà nghiên cứu (Hu, Y & Izumida, 2008; Le, TV & Buck, 2011) đã chọn lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) để tính các hệ số trên.
Một số nghiên cứu của các tác giả như: Tian & Estrin, 2008; LI và cộng sự, 2009 lại sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận thuần, còn nghiên cứu của Shah và cộng sự, 2011 thì lựa chọn lợi nhuận thuần cộng thêm với lãi vay. Bên cạnh đó, cũng có vài nghiên cứu cho rằng nên dùng lợi nhuận trước thuế, lãi vay, hao mòn và khấu hao (EBITDA). Ngoài ROA và ROE thì cũng có những hệ số khác được sử dụng như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu - ROS (Le, TV & Buck, 2011), lợi nhuận trên vốn đầu tư - ROI (Shah và cộng sự, 2011) hay lợi suất cổ tức – DY (Ming & Gee, 2008; Ongore, 2011). Nhóm chỉ tiêu thứ hai: nhóm chỉ số giá trị thị trường cũng thường được sử dụng trong các nghiên cứu để thể hiện hiệu quả tài chính.
Đối với nhóm này, hai hệ số Marris và Tobin’ s Q được sử dụng nhiều và được coi như công cụ tốt trong việc đánh giá (theo nghiên cứu của Zeiturn và cộng sự, 2007; Jiraporn và cộng sự, 2008; Nour, 2012). Trong đó, Marris được tính bằng cách lấy tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chia cho giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, còn Tobin’ s Q được tính là lấy giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với gái trị sổ sách các khoản nợ phải trả chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản. Tóm lại khi đánh giá về hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thì nhóm các chỉ tiêu ROA, ROE vẫn là thước đo được sử dụng phổ biến nhất. Nhóm chỉ số này là cách nhìn về quá khứ hoặc có thể đánh giá khả năng lợi nhuận của doanh nghiệp (Hu & Izumida, 2008).
Đây là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và cũng phản ánh cả lợi nhuận đã đạt được trong các kỳ kế toán trước. Vì vậy, trong khoá luận nghiên cứu về hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam tác giả sẽ quyết định sử dụng 2 chỉ tiêu này để thể hiện cho hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa. Việc kết hợp sử dụng cả 2 chỉ tiêu sẽ đưa ra một cái nhìn bao quát và rõ ràng hơn cho 7 các nhà quản lý, nhà đầu tư, các bên có liên quan trong việc đánh giá về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA ROA là chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.
Nó cho biết hiệu quả hoạt động của công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. Đây là dữ liệu tài chính quan trọng đối với bất kì doanh nghiệp hay nhà đầu tư nào. ROA được xác định bằng công thức sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Trong đó: Tổng tài sản bình quân trong một kỳ được tính bằng cách lấy trung bình cộng của tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ của doanh nghiệp. Nếu như doanh nghiệp không có đủ số liệu thì có thể thay thế tổng tài sản bình quân bởi tổng tài sản tại thời điểm cuối kỳ.
ROA cho biết được doanh nghiệp đã kiếm được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trên một đồng tài sản đã đầu tư. Chỉ số này càng cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh và sử dụng tài sản của công ty càng hiệu quả, hiệu quả tài chính tốt, công ty đang kiếm được nhiều tiền trên số tiền đã bỏ ra. Nếu ROA tăng đều đặn cho thấy tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phát triển ổn định, còn ROA có sự thay đổi bất thường thể hiện doanh nghiệp làm ăn bất ổn, sử dụng nguồn vốn chưa thật sự hiệu quả. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE ROE là một chỉ số đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu tư trên một đồng vốn đã bỏ ra.
ROE là tỷ suất quan trọng đối với các cổ đông - chủ sở hữu công ty, đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp. ROE được xác định bằng công thức sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế Tỷ suất sinh lời (lợi nhuận) trên vốn chủ sở hữu = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 8 Trong đó: Vốn chủ sở hữu bình quân trong một kỳ được tính bằng cách lấy trung bình cộng của vốn chủ sở hữu đầu kỳ và cuối kỳ của doanh nghiệp. Nếu như doanh nghiệp không có đủ số liệu thì có thể thay thế vốn chủ sở hữu bình quân bởi vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối kỳ. Chỉ số ROE cho biết trong một kì nhất định, doanh nghiệp bỏ ra một đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.