phần mở đầu, luận án đƣợc kết cấu gồm 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong chƣơng này, tác giả trình bày tổng quan các hƣớng nghiên cứu cũng nhƣ các lí thuyết liên quan đƣợc các học giả sử dụng trƣớc đây, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Trong chƣơng này, luận án trình bày tổng quan về IFRS cho các DN, các lý thuyết nền đƣợc vận dụng, từ đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Trong chƣơng này, tác giả trình bày thiết kế nghiên cứu, khung nghiên cứu, qui trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu định tính, xây dựng thang đo, phƣơng pháp đo lƣờng và tính toán dữ liệu, thiết kế nghiên cứu định lƣợng, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM dựa trên bình phƣơng tối thiểu từng phần (Partial Least Squares Strutural Squared Model – PLS-SEM). Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chƣơng này, luận án trình bày kết quả nghiên cứu định tính, kết quả nghiên cứu sơ bộ, kết quả nghiên cứu chính thức, thảo luận kết quả từ phân tích dữ liệu dựa trên kỹ thuật thống kê mô tả, kỹ thuật Cronbach’s Alpha, kỹ thuật EFA, kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính-SEM dựa trên bình phƣơng tối thiểu từng phần (PLS-SEM).
Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý 11 Trong chƣơng này, tác giả trình bày kết quả của luận án, thảo luận phát hiện thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu. Dựa trên các kết luận này, luận án đề xuất các hàm ý về lí thuyết và hàm ý về chính sách liên quan đến nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng của DN khi vận dụng IFRS tại VN. 12 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này thực hiện nhằm lược khảo tổng quan, phân tích những nghiên cứu đã được thực hiện có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, làm cơ sở xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho luận án. Để thực hiện được điều này, luận án lần lượt trình bày nghiên cứu trong và ngoài nước đã thực hiện liên quan đến luận án sau đó xác định khe hổng nghiên cứu mà luận án sẽ thực hiện.1 Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Trên thế giới, chủ đề IFRS đƣợc thực hiện xoay quanh những hƣớng nghiên cứu nhƣ: những lợi ích, thách thức, bất lợi của việc sử dụng IFRS của các DN; hƣớng nghiên cứu về nhân tố tác động đến việc sử dụng IFRS của DN.
Riêng vấn đề nghiên cứu mức độ sẵn sàng của DN khi vận dụng IFRS là một lĩnh vực tƣơng đối mới và đƣợc nhiều nghiên cứu tiếp cận. Tuy nhiên, mức độ công bố các nghiên cứu về mức độ sẵn sàng của DN khi vận dụng IFRS còn khá hạn chế. Nội dung của các hƣớng nghiên cứu nhƣ sau: 1.1 Những nghiên cứu về lợi ích, bất lợi, thách thức của IFRS đối với DN Trong nghiên cứu về về hội nhập kinh tế và các giải pháp để lựa chọn ứng dụng IFRS ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á (ASEAN) của Saudagaran và Diga (2003) cho rằng việc sử dụng IFRS làm tăng hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng vốn, bởi vì IFRS không chỉ phản ánh chính sách về hệ thống kế toán sở tại mà là ứng dụng chuẩn mực chung của quốc tế. Tƣơng tự, nghiên cứu về môi trƣờng BCTC và tính dịch chuyển của vốn quốc tế của Young và Guenther (2003) kết quả bài báo cho rằng những lợi ích của việc ứng dụng IFRS tại các nƣớc đang phát triển là: tăng cạnh tranh và tăng cƣờng hội nhập, đẩy mạnh minh bạch thông tin, cải tiến chất lƣợng công bố thông tin, tăng vòng chuyển vốn quốc tế và tăng đầu tƣ nhiều hơn, góp phần nâng cao cơ hội hợp tác quốc tế giữa các nƣớc.
Nhấn mạnh ích lợi của việc ứng dụng IFRS đóng góp cho các DN 13 đƣợc thể hiện trong bài báo của Whittington (2005) kết quả khẳng định việc sử dụng IFRS là tạo điều kiện đối chiếu giữa các DN nhƣng có trụ sở tại nhiều quốc gia khác nhau do đó từ việc sử dụng thống nhất IFRS sẽ giúp DN có thể đánh giá đƣợc hoạt động toàn diện hơn. Lợi ích của việc ứng dụng IFRS đối với chất lƣợng thông tin trên BCTC đƣợc đề cập trong bài báo của Daske và Gebhardt (2006) nghiên cứu cho thấy BCTC theo IFRS sẽ đƣa ra thông tin tốt hơn cho nhà đầu tƣ so với BCTC hiện tại theo tiêu chuẩn quốc gia. Nghiên cứu về phản ứng khi áp dụng IFRS ở EU đƣợc thu thập từ 21 quốc gia, trong giai đoạn 1994-2003 của Barth và cộng sự (2008) cho thấy DN có phản ứng tích cực với việc ứng dụng IFRS, bởi vì chất lƣợng của thông tin BCTC đƣợc cải thiện rõ rệt, đặc biệt trong ngành tài chính, và khi sử dụng IFRS thƣờng xảy ra ít vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị lợi nhuận, giúp ghi lỗ kịp thời hơn, từ đó tạo khác biệt về giá trị của kế toán giữa quốc gia có áp dụng IFRS và không có áp dụng IFRS. Một bài báo khác của Hail và Wysocki (2010) về ích lợi của việc sử dụng IFRS, kết quả bài báo cho rằng khi sử dụng IFRS sẽ giúp đẩy nhanh hoạt động kinh doanh giữa các quốc gia, điều này đƣợc giải thích là do khi sử dụng IFRS sẽ làm tăng tiết kiệm, giảm thời gian xử lý và liên kết thông tin.
Tƣơng tự, Christensen và cộng sự (2013) tiến hành nghiên cứu dữ liệu giai đoạn 1998 – 2005 tại Đức với mẫu thu thập gồm 177 DN không áp dụng IFRS và 133 DN sử dụng IFRS, kết quả khẳng định việc sử dụng IFRS giúp giảm chi phí quản trị và ghi nhận lỗ đúng kỳ cho DN. Một lợi ích khác khi sử dụng IFRS là giúp tăng chất lƣợng kế toán và các chuyên gia tài chính sẽ hoạt động tốt hơn, linh hoạt hơn, các DN đa quốc gia giảm đƣợc chi phí chuyển đổi BCTC từ hệ thống kế toán quốc gia, và hoạt động tuyển dụng, đào tạo nhân lực tại DN con của họ trên toàn thế giới cũng thuận lợi hơn, đƣợc đề cập trong bài báo của De George và cộng sự (2016). Mặc dù, sử dụng IFRS đã mang lại nhiều ích lợi nhƣng đi kèm theo đó là những bất lợi, thách thức đối với DN trong hoạt động bắt đầu sử dụng IFRS. Điển hình nhƣ, bài báo về ảnh hƣởng của việc chấp nhận IFRS ở Bỉ của Jermakowicz (2004) kết quả 14 đã đƣa ra thách thức chính trong quá trình vận dụng IFRS bao gồm: Tính chất phức tạp của tiêu chuẩn của IFRS, có ít hƣớng dẫn về báo cáo IFRS lần đầu, sự kém phát triển của thị trƣờng vốn, pháp luật và các quy định còn yếu kém, chi phí thực hiện IFRS cao.
Một lĩnh vực nghiên cứu khác về tác động của sự hội tụ đối với các DN kiểm toán bằng cách tập trung vào việc vận dụng IFRS của Tokar (2005) nghiên cứu chỉ ra những thách thức của việc vận dụng IFRS nhƣ: hoạt động đào tạo nhân viên chuyên nghiệp theo yêu cầu mới, phát triển các nguồn lực dựa trên IFRS để hỗ trợ các chuyên gia làm việc với IFRS, áp dụng các thủ tục kiểm soát chất lƣợng hiện có dựa trên IFRS. Bên cạnh đó, bài báo cho rằng đối với một quốc gia có ngôn ngữ chính thức khác ngoài tiếng Anh thì việc dịch kịp thời IFRS sang ngôn ngữ quốc gia là một cản trở lớn trong giai đoạn chuyển đổi. Các loại chi phí để chuyển đổi sang IFRS tại EU đƣợc đề cập trong nghiên cứu của ICAEW (2007) là: chi phí cho đội dự án IFRS, chi phí cho thay đổi phần mềm và hệ thống, chi phí kiểm toán bên ngoài, chi phí tƣ vấn kỹ thuật bên ngoài, chi phí đào tạo kế toán, chi phí đào tạo khác (nhân viên IT, kiểm toán nội bộ và quản lý), chi phí giao tiếp với các bên thứ ba, chi phí tƣ vấn về thuế, chi phí dữ liệu bên ngoài bổ sung, chi phí phát sinh từ những thay đổi nhƣ thƣơng lƣợng lại các khoản nợ. Tƣơng tự, Nerudova và Bohusova (2008) cho rằng việc áp dụng IFRS là không phù hợp vì chi phí quá cao, đòi hỏi nhân lực đủ chuyên môn để đáp ứng các quy định của IFRS dẫn đến DN trở nên không còn hiệu quả ở Cộng hòa Séc.
Fox và cộng sự (2013) nghiên cứu về lợi ích - chi phí của vận dụng IFRS tại Ý và Anh, kết quả cho rằng có một số loại chi phí vô hình mà DN phải đối mặt bao gồm: việc áp dụng IFRS gây lo ngại cho các nhà đầu tƣ về danh tiếng của công ty, và thông tin tiết lộ khi áp dụng IFRS có thể tăng khả năng cạnh tranh. Xem xét những khó khăn của DN niêm yết khi tiến hành sử dụng IFRS ở Thổ Nhĩ Kỳ của Mısırlıoğlu và cộng sự (2013) kết quả của bài báo cho rằng việc bắt buộc sử dụng IFRS vào năm 2005 của Thổ Nhĩ Kỳ đã không mang lại nhiều hiệu quả do DN phải tuân thủ quá nhiều yêu cầu của IFRS lần đầu tiên gặp khó khăn, đòi hỏi khả năng tài chính lớn để có thể thực hiện và do trình độ kế toán 15 viên còn yếu nên việc áp dụng IFRS trở nên khó khăn. Khi nghiên cứu chiến lƣợc, lợi ích và thách thức từ sử dụng IFRS ở Ấn Độ, Misra và Aggarwal (2014) kết quả chỉ ra những thách thức khi sử dụng IFRS, chẳng hạn nhƣ: mức độ hiểu biết về IFRS, xem xét pháp lý và quy định hiện tại, môi trƣờng kinh tế, mức độ phức tạp cao hơn trong quy trình soạn thảo BCTC, những thách thức đối với DN nhỏ và vừa và DN dịch vụ kế toán, sự khan hiếm về nguồn lực và kỹ năng. Christensen và cộng sự (2013) thông qua cỡ mẫu 177 DN không áp dụng IFRS và 133 DN tự nguyện áp dụng IFRS tại Đức giai đoạn 1998 – 2005 cho rằng việc sử dụng IFRS một cách bắt buộc bằng áp lực cƣỡng chế có thể không cải thiện đƣợc chất lƣợng BCTC nếu DN không có động lực hay nhu cầu minh bạch thông tin.
Nghiên cứu những thách thức khi sử dụng IFRS ở Trung Quốc của Miao (2017) thực hiện việc khảo sát 394 DN, kết quả chỉ ra rằng, việc áp dụng IFRS tại Trung Quốc sẽ gặp những rào cản bao gồm: chi phí triển khai IFRS, dịch IFRS sang tiếng phổ thông, đào tạo IFRS, thiếu cơ sở hạ tầng để sử dụng IFRS nhất quán.