CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỈ SỐ Z-SCORE PHẢN ÁNH RỦI RO PHÁ SẢN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở luận về phá sản doanh nghiệp 1. Tổng quan về phá sản doanh nghiệp 1. Lý thuyết về phá sản Lý thuyết phá sản sơ khai (Early bankrupt theory) Lý thuyết về phá sản bắt đầu từ việc nhận ra rằng đôi khi cần có một hệ thống phá sản để giải quyết vấn đề của các chủ nợ khi một doanh nghiệp không thể trả nợ.
Phá sản có thể xảy ra vì tình trạng khó khăn kinh tế hoặc tài chính, hoặc cả hai. Khó khăn kinh tế xảy ra khi doanh nghiệp không kiếm đủ tiền để trả các chi phí của mình, trừ chi phí tài chính. Một doanh nghiệp như vậy có giá trị kinh tế âm. Một doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính nếu nó có lãi dương khi không phải trả nợ.
Do nợ của doanh nghiệp bị bỏ đi khi phá sản nên việc có nợ không ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp tiếp tục hoạt động hay không. Phúc lợi xã hội được tối đa hóa khi các doanh nghiệp gặp khó khăn về kinh tế được thanh lý nhưng các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính vẫn được tiếp tục hoạt động. Các chủ nợ thường ít quan tâm đến việc cứu vãn doanh nghiệp hơn là xác định xem doanh nghiệp có tài sản để đáp ứng các yêu cầu của họ hay không. Và nếu có tài sản, các chủ nợ sẽ cố gắng thu hồi chúng, điều này thường dẫn đến việc thanh lý từng phần doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp chỉ gặp khó khăn về tài chính, tổng giá trị thanh toán của các chủ nợ sẽ được tối đa hóa nếu doanh nghiệp được tiếp tục hoạt động. Và điều này thường đòi hỏi các chủ nợ phối hợp nỗ lực để có thể thu hồi nợ của họ, nhưng chi phí cho sự phối hợp này có thể cao. Kết quả là, nếu không có quy định, sẽ tồn tại những trạng thái cân bằng hợp lý trong đó các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính cũng như kinh tế sẽ bị thanh lý từng phần (Sayantan Ghosal & Marcus Miller, 2003; Stanley D. Jackson (1986) cho rằng pháp luật phá sản có thể giúp 5 tránh các tình huống cân bằng không hiệu quả này bằng cách ngừng các nỗ lực thu hồi của các chủ nợ để quan chức nhà nước có thời gian quyết định liệu doanh nghiệp đáng được cứu vãn hay không.
Hơn nữa, giáo sư Barry E. Adler (2002) cũng bổ sung thêm thêm rằng luật phá sản phải dung hòa “các nghĩa vụ không thể hỗ trợ lẫn nhau”. Lý thuyết phá sản tiền hiện đại (Early modern theory) ưa thích để thị trường quyết định việc doanh nghiệp nên được thanh lý hay tiếp tục hoạt động. Tức là, nhà nước nên tổ chức các phiên đấu giá của các công ty mất khả năng thanh toán, không có yêu cầu bồi thường hiện tại, và phân phối số tiền thu được cho các chủ nợ.
Nếu giá trị kinh tế được tối đa hóa bằng cách thanh lý từng phần, giá thầu cao nhất sẽ dành cho từng tài sản; nếu tiếp tục công ty như một thực thể kinh tế sẽ tối đa hóa giá trị thì giá thầu cao nhất sẽ dành cho công ty với tư cách là một đơn vị. Baird 1986 và Michael C. Jensen 1991) Các nhà lý thuyết ban đầu tin rằng hệ thống phá sản nên tuân theo nguyên tắc ưu tiên tuyệt đối, tức là các chủ nợ được thanh toán theo thứ tự mà hợp đồng của doanh nghiệp đã thiết lập (Philippe Aghion 1998). Theo nguyên tắc này, cổ đông - những người sở hữu cổ phần - không nên nhận được gì vì một doanh nghiệp phá sản sẽ không còn giá trị gì cho họ.
Đồng thời, họ cũng cho rằng một hệ thống phá sản là một phương tiện kém hiệu quả để đạt được mục tiêu xã hội. Lý thuyết phá sản hiện đại Cũng theo Alan Schwartz (2005) lý thuyết hiện đại liên hệ kết quả của quy trình phá sản với các giai đoạn trong vòng đời của công ty đi vay. Một hệ thống phá sản hiệu quả trước đây sẽ tối đa hóa lợi ích mà các chủ nợ nhận được từ các công ty mất khả năng thanh toán. Ví dụ, một hệ thống chỉ giải cứu các công ty đang gặp khó khăn về tài chính sẽ mang lại lợi ích cao hơn cho các chủ nợ so với một hệ thống cố gắng giải cứu cả các công ty đang gặp khó khăn về kinh tế.
Ngoài ra, một hệ thống phá sản làm giảm chi phí vốn nợ sẽ làm giảm chi phí vốn nói chung. Người nắm giữ cổ phần sở hữu quyền chọn mua đối với một công ty có đòn bẩy tài chính vì các cổ đông có thể mua công ty bằng cách trả nợ. Do đó, giá thực hiện để thực hiện quyền chọn mua này được xác định bởi chi phí tín dụng của công ty. Giảm chi phí này - 6 tức là giảm giá thực hiện - làm cho cổ phiếu của một công ty có đòn bẩy tài chính trở nên có giá trị hơn để sở hữu.
Do đó, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng huy động vốn cổ phần hơn khi hệ thống phá sản của quốc gia họ trở nên hiệu quả hơn. Khái niệm rủi ro phá sản Các tác giả khác nhau có những định nghĩa, quan điểm về phá sản khác nhau mà không có một định nghĩa tổng quát hóa: Beaver (1966) đã đưa ra tiêu chuẩn xác định các công ty có nguy cơ phá sản là những công ty không trả được nợ, các công ty thấu chi trên tài khoản ngân hàng và bỏ qua việc thanh toán cổ tức ưu đãi. Altman (1986) khi thực hiện nghiên cứu tại thị trường Mỹ đã chỉ ra rằng công ty phá sản là công ty nộp đơn xin phá sản. Nghiên cứu ở thị trường Trung Quốc, Zang (2007) có quan điểm rằng công ty bị đưa vào diện kiểm soát khi thu nhập tích lũy âm hai năm liên tục hoặc giá trị tài sản ròng trên cổ phiếu thấp hơn giá trị sổ sách Theo Venkataramana và cộng sự (2012): "Phá sản là tình trạng khi các khoản nợ phải trả vượt quá tài sản của công ty, điều này thường xảy ra do thiếu vốn, không duy trì đủ tiền mặt, nguồn lực không được sử dụng một cách hiệu quả, quản lý hoạt động không hiệu quả, doanh số bán hàng giảm, và tình hình thị trường suy giảm" "Phá sản xảy ra sau khi công ty không trả được các khoản nợ hoặc trong tình hình công ty con nợ không thể trả được nợ.
Mặc dù phá sản là một phần của quá trình lựa chọn thị trường và có thể được coi là kết quả của khả năng của doanh nghiệp không thể tồn tại trong cạnh tranh thị trường, nhưng nó có thể gây ra nhiều hậu quả tổn hại, đôi khi có quy mô đáng kể, liên quan đến mất việc làm, phá hủy tài sản và cơ sở sản xuất" (Aleksanyan và Huiban, 2016). Rybak (2006) cho rằng “Rủi ro phá sản là khả năng xảy ra thủ tục phá sản hợp pháp được dự đoán trước, kéo theo đó là những hậu quả tài chính bất lợi như mất nguồn lực hoặc thu nhập kỳ vọng”. “Việc phá sản có nghĩa là rủi ro một công ty sẽ không thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình. Rủi ro này còn được gọi là rủi ro 7 vỡ nợ hoặc mất khả năng thanh toán” (Campbell 2012).
Theo hai tác giả, “rủi ro phá sản xảy ra ở mọi giai đoạn của vòng đời công ty. Sự xuất hiện của nó là sự tất yếu khách quan trong hoạt động của người quản lý, vốn bị điều hòa bởi sự mơ hồ của môi trường xung quanh và sự thiếu hụt nguồn lực của công ty. Rủi ro phá sản sẽ lớn hơn khi cá nhân hoặc công ty có ít hoặc không có dòng tiền hoặc khi quản lý tài sản của mình kém. Các ngân hàng đánh giá rủi ro phá sản khi xem xét có nên cho vay hay không”.
"Dự báo rủi ro phá sản ngày càng quan trọng đối với quản trị doanh nghiệp. Nhiều mô hình khác nhau đã được sử dụng để dự báo phá sản doanh nghiệp. Các phương pháp này đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, và việc lựa chọn giữa chúng để áp dụng thực tế không đơn giản" (Aziz và Dar, 2006). Theo tác giả Nguyễn Thị Nga (2018) rủi ro phá sản được coi là toàn bộ những tác động ngoài mong muốn ảnh hưởng đến sự tồn tại, làm mất khả năng chi trả, hoạt động bình thường của nhà kinh doanh.
Nói cách khác, rủi ro phá sản mô tả khả năng một công ty sẽ bị vỡ nợ và không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình. Ở Việt Nam, Luật Phá sản 2014 phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm là “mất khả năng thanh toán” và “phá sản”. Theo đó, doanh nghiệp được cho là mất khả năng thanh toán “khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”, trong khi đó phá sản là “tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Như vậy, chỉ khi tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mới được coi là ở trong tình trạng phá sản.
Hơn nữa, nhà lập pháp đã quy định một giai đoạn chờ là ba tháng kể từ ngày khoản nợ liên quan đến hạn, qua đó tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp thanh toán nợ và giảm áp lực “đe dọa” nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía chủ nợ. Như vậy, rủi ro phá sản doanh nghiệp là khả năng một doanh nghiệp không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính của mình. Điều này có thể xảy ra khi doanh nghiệp không có đủ tài nguyên hoặc thu nhập để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính như 8 trả nợ, chi trả lương cho nhân viên, hoặc thanh toán các khoản phí và chi phí khác. Đây cũng là định nghĩa được sử dụng trong bài nghiên cứu.