CHƯƠNG 1 : LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ NHÂN TỐ HÀNH VI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Lý thuyết tài chính hành vi Trong thời gian gần đây lĩnh vực tài chính hành vi (behavioral finance) được nhắc đến như một hướng nghiên cứu mới của các nhà kinh tế. Các ứng dụng của tài chính hành vi là khá phổ biến tại các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tài chính hành vi là một bộ phận của tài chính. Trong khi tài chính truyền thống (tranditional finance) nghiên cứu dựa trên các mô hình định giá thì tài chính hành vi hướng nghiên cứu vào các hành vi của con người thể hiện trên thị trường tài chính, ứng dụng kiến thức của tâm lý học, xã hội học và kiến thức tài chính giải thích các điểm bất thường của thị trường tài chính mà các lý thuyết cổ điển trước đây không giải quyết được.
Nghiên cứu tài chính truyền thống luôn dựa vào giả thiết thị trường hiệu quả. Trong thị trường kinh doanh chênh lệch giá tồn tại, và thị trường có thể tự điều chỉnh. Tuy nhiên lý thuyết hành vi sẽ giải thích tại sao có những thời điểm thị trường không thể tự điều chỉnh. Lý thuyết tài chính hành vi là một phạm trù của tài chính, nghiên cứu bổ sung cho các lý thuyết tài chính truyền thống bằng việc đưa ra các hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định.
Lý thuyết này liên quan đến cá nhân và cách thức thu thập, sử dụng thông tin. Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự báo những thay đổi bất thường mang tính tâm lý trên thị trường tài chính. Lý thuyết tài chính hành vi tồn tại khi: Tồn tại hành vi không hợp lý, hành vi bất thường mang tính hệ thống và giới hạn khả năng chênh lệch giá. Với ba điều kiện này đã tạo ra nền tảng “thị trường không luôn luôn đúng” là đối trọng cho lý thuyết thị trường hiệu quả trước đây.
Trải qua thời gian mấy chục năm phát triển, nhưng tài chính hành vi vẫn rất mới mẻ, đặc biệt là ở Châu Á. Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế mới nổi ở 123doc 2 Châu Á với nhiều đặc trưng văn hóa tương tự như các nước châu Á khác. Để tạo tiền đề cho đề tài nghiên cứu này tại Việt Nam, tác giả xin điểm lại một số bài nghiên cứu trước đây tại Châu Á. Châu Á được biết đến với sự đa dạng về mức tư bản (capitalism level) và kinh nghiệm về tài chính giữa các thị trường là khác nhau, do đó là một nơi thú vị để nghiên cứu tài chính hành vi.
Mặc dù một số quốc gia vẫn ở giai đoạn đang phát triển, một số thì đã phát triển từ lâu. Mức độ khác biệt về kiến thức và kinh nghiệm dẫn đến sự khác biệt trong việc đưa ra quyết định. Châu Á là nền tảng tuyệt vời để nghiên cứu tài chính hành vi. Hơn nữa, người Châu Á có vẻ bị ảnh hưởng bởi những sai lệch về mặt nhận thức (cognitive biases) hơn người phương Tây làm cho các nhà đầu tư châu Á được coi như những con bạc (gamblers).
Về mặt lý thuyết, các nhà khoa học xã hội và tâm lý học cho rằng sự gia tăng của các sai lệch về mặt hành vi (behavioral biases) có thể được nuôi dưỡng bởi văn hóa dù mức độ có thể khác nhau. Kim và Nofsinger (2008, trang 2-5) giải thích sự khác biệt giữa các nền văn hóa bằng một thể về liên tục chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể (individualism collectivism continuum). Các nền văn hóa Châu Á được cho là thuộc về mô hình xã hội tập thể, được cho là nguyên nhân gây ra sự quá tự tin (overconfident) của nhà đầu tư dẫn đến sai lệch hành vi. Sự khác biệt về văn hóa, cụ thể hơn là kinh nghiệm và giáo dục có thể ảnh hưởng đến hành vi, do đó người ta tin rằng khuynh hướng hành vi có thể khác nhau giữa nền văn hóa khác nhau.
Một số bằng chứng chỉ rằng biểu hiện sự sai lệch hành vi của người Châu Á là nhiều hơn là các người lớn lên ở Châu Âu và Mỹ (Yates và cộng sự, 1997, trang 87). Mặc dù có một số tài liệu về sự khác biệt những sai lệch về hành vi giữa người Châu Á và người phương Tây, nhưng vẫn còn quá ít. Một tài liệu có hệ thống về các hành vi của người châu Á và đưa ra ảnh hưởng đến ra quyết định đầu tư được đề xuất bởi Chen và cộng sự (2007, trang 425-451). Dựa vào đó, họ thấy rằng các nhà đầu tư Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi sự quá tự tin và hiệu quả phân bổ nhiều hơn so với các nhà đầu tư Mỹ.
123doc 3 Mặc dù tài chính hành vi vẫn còn là một chủ đề tranh cãi, các nhà phân tích tài chính hiện nay có sự hiểu biết tốt hơn về hành vi của con người và được chấp nhận rằng các hành vi đó ảnh hưởng đến quyết định tài chính. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đồng ý rằng kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) là giới hạn. Do đó, những hành vi có thể ảnh hưởng đến giá. Trong khi đó, tài chính hành vi đã giúp chúng ta hiểu biết hơn về thị trường tài chính.
Lĩnh vực này hứa hẹn nhiều hơn trong tương lai.2 Các nhân tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân trên thi trường chứng khoán 1.1 Các khái niệm cơ bản về các nhân tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm nhà đầu tư cá nhân Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán có thể phân loại thành nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức. Trong đó, nhà đầu tư cá nhân là những người có vồn nhàn rỗi tạm thời, thực hiện đầu tư trên tài khoản của chính mình để đạt được mục tiêu tài chính của cá nhân. Các đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân - Nhà đầu tư cá nhân thường có vốn đầu tư nhỏ nên mức độ đa dạng hoá danh mục đầu tư thấp, quy mô và khối lượng giao dịch không lớn như các nhà đầu tư tổ chức. - Nhà đầu tư cá nhân thường không có chiến lược đầu tư dài hạn và theo các triết lý đầu tư cụ thể, dễ bị tác động và bị tổn thương.
- Quá trình ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân thường diễn ra nhanh chóng do bản thân nhà đầu tư tự quyết định trên tài khoản đầu tư của mình. - Các nhà đầu tư cá nhân thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố đám đông nhiều hơn các nhà đầu tư tổ chức.2 Khái niệm hành vi nhà đầu tư cá nhân Các nhà sinh học cho rằng hành vi là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường. Những người theo chủ nghĩa hành vi quan niệm “hành vi là tổ hợp các phản ứng của 123doc 4 cơ thể trả lời các kích thích tác động vào cơ thể”. Trong khi đó, tâm lý học Mácxít coi con người là một chủ thể tích cực chứ không phải là một cá thể thích nghi thụ động với môi trường, do đó hành vi của con người bao giờ cũng có mục đích để đảm bảo cho con người không chỉ tồn tại mà còn phát triển.
Vì vậy, hành vi được hiểu là “một chuỗi các hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm đạt mục đích để thoã mãn nhu cầu của con người” Như vậy, hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán có thể được hiểu là chuỗi hành động của nhà đầu tư trước các kích thích của môi trường bên ngoài có liên quan đến thị trường chứng khoán và các yếu tố bên trong thuộc về nhà đầu tư.3 Khái niệm về quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Là các quyết định liên quan đến đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư. Các quyết định trên bao gồm: Quyết định mua, quyết định bán, quyết định thời gian nắm giữ cổ phiếu, quyết định khối lượng giao dịch. Tuy nhiên hai quyết định quan trọng nhất là quyết định mua và bán. Quyết định bán: Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng các nhà đầu tư trì hoãn và ngần ngại đưa ra các quyết định bán tài sản khi xuất hiện một khoản lỗ so sánh với giá mua ban đầu hay vội vàng bán các cổ phiếu lời quá sớm để chứng tỏ quyết định chính xác của mình, xu hướng đó được gọi là hiệu ứng ngược vị thế (dispositon effect) đề xuất bởi Shefrin và và Statman (1985, trang 778).
Odean (1998b, trang 1795) cũng xác nhận một xu hướng rằng các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng bán cổ phiếu giá trị (tăng giá hơn so sánh với giá mua gốc) hơn là việc bán các cổ phiếu đang giảm giá. Tuy nhiên, thật khó để chứng minh hiện tượng này như là một cơ sở tin cậy. Điều này không phải thực sự hợp lý để kết luận rằng các nhà đầu tư lý trí bán các cổ phiếu tốt của họ bởi vì họ có thể thấy được cổ phiếu của mình kém hiệu quả. Bên cạnh đó, Odean cũng nhận ra rằng lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu bán ra lớn hơn so với lợi nhuận trung bình của các cổ phiếu mà nhà đầu tư nắm giữ.
123doc 5 Genesove và Mayer (2001, trang 19) cho rằng các nhà đầu tư bán tài sản đang thua lỗ mong đợi rằng giá bán sẽ cao hơn mức giá bán của các người bán khác yêu cầu. Điều đó không chỉ là kỳ vọng của người bán, mà còn là sự điều chỉnh của thị trường ảnh hưởng đến giá bán: Nhà đầu tư (NĐT) gặp phải một sự tổn thất thường làm cho các giao dịch ở mức giá tương đối cao so với những người khác. Coval và Shumway (2000, trang 3) tìm thấy rằng các NĐT, theo lý thuyết triển vọng, có lợi nhuận (lỗ) trong nửa đầu của ngày giao dịch có xu hướng bị ít (nhiều) rủi ro trong nửa cuối phiên giao dịch. Quyết định mua: Odean (1999, trang 1293) cung cấp một số hiểu biết về các cổ phiếu mà các NĐT cá nhân muốn mua.
Như đã đề cập ở trên, quyết định bán chủ yếu ưu tiên các cổ phiếu tốt, trong khi đó, các quyết định mua thường liên quan đến tất cả các cổ phiếu. Odean nói rằng quyết định mua có thể là một kết quả của một hiệu ứng chú ý.