Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trình bày khái quát lý do lựa chọn đề tài, sau đó sẽ xác định mục tiêu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu để thực hiện luận văn, cuối cùng là ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. Trong chương này, tác giả trình bày các nền tảng lý thuyết về TTCK và đóng góp của nó vào sự phát triển của đất nước, sự phát triển của lý thuyết kinh tế học hành vi đối việc ra quyết định của NĐT cá nhân.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu. 11 Luan van Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày cách thức nghiên cứu, phương pháp thực hiện nghiên cứu, điều chỉnh thang đo, cách thức xây dựng mẫu. Chương 4: Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam và kết quả nghiên cứu luận văn Trình bày thông tin tổng quan về đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam và nhà đầu tư cá nhân.
Sau đó là các dữ liệu về mẫu khảo sát, kiểm định thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả. Chương 5: Kết luận. Trong chương cuối cùng, tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu và đề xuất các khuyến nghị đối với NĐT cá nhân và các nhà quản trị công ty chứng khoán. Đồng thời, tác giả nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo.
12 Luan van CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán Lý thuyết tổng quan về thị trường chứng khoán được trình bày trong Phần 2.1 này được tác giả tổng hợp từ các tài liệu và giáo trình liên quan. Trong đó, tác giả sử dụng chủ yếu tài liệu Giáo trình thị trường chứng khoán, 2009 của tác giả Bạch Đức Hiển. Khái niệm và các đặc điểm của thị trường chứng khoán Khái niệm Thị trường chứng khoán là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng khoán.
Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ cấp. Đặc điểm của TTCK Thứ nhất, hàng hoá của TTCK là các loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Chứng khoán có những đặc điểm khác biệt so với các hàng hóa thông thường. Chúng không có những tính năng, tác dụng riêng như các hàng hóa khác, nó là những công cụ chuyển tải giá trị.
Vì vậy, trong phát hành cũng như trong đầu tư mua bán chứng khoán người ta không cần quan tâm đến hình thức của chúng. Điều quan trọng cần nghiên cứu, phân tích, đó là: chứng khoán đó thật hay giả, khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm ẩn thế nào, khả năng thanh khoản ra sao. Thứ hai, việc chuyển giao vốn từ người cung sang người cầu trên TTCK sơ cấp được thực hiện chủ yếu bởi cơ chế tài chính trực tiếp (tức là vốn hay các nguồn tài chính được chuyển trực tiếp từ người cung vốn sang người cầu vốn). 13 Luan van Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới.
TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung là bộ phận quan trọng. Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ chuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường NĐT khó có khả năng phân biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý cũng như chất lượng của chúng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạt động đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giao dịch của thị trường đó. Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứng khoán không thể đến thị trường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà môi giới chứng khoán.
Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộ phận trung tâm. Ở thị trường này, mọi người đều được tự do mua và bán theo nguyên tắc hoạt động của thị trường, không có sự áp đặt giá trên TTCK. Giá chứng khoán được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán.
Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục. Sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp. TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn. Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Tổ chức phát hành chứng khoán Tổ chức phát hành chứng khoán là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua TTCK.
Tổ chức phát hành là người cung cấp hàng hóa cho thị trường và có trách nhiệm công bố các thông tin về chứng khoán. Các tổ chức được phát hành chứng khoán gồm: 14 Luan van + Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương: phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa phương. + Doanh nghiệp (bao gồm cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng và phi tài chính): phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp. Theo luật lệ của hầu hết các quốc gia, cổ phiếu chỉ do một chủ thể duy nhất phát hành, đó là công ty cổ phần; còn trái phiếu có thể do nhiều loại hình doanh nghiệp phát hành như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước.
+ Công ty quản lý quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư. Nhà đầu tư chứng khoán Nhà đầu tư chứng khoán là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lợi nhuận. Có thể chia nhà đầu tư thành nhiều nhóm như: nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư cá nhân: là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK.
Cũng giống như những hoạt động đầu tư khác, mục đích của đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư có khả năng tài chính, tâm lý đầu tư và điều kiện nhân thân khác nhau, do vậy, họ sẽ có thái độ khác nhau đối với rủi ro. Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái thận trọng thường không thích rủi ro và rất bảo thủ trong các phương thức đầu tư. Họ tìm mọi cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận từ những chứng khoán có rủi ro thấp, đầu tư dài hạn vào một số chứng khoán nhất định.
Ngược lại, các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái mạo hiểm thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được. Họ thường đầu tư vào các chứng khoán có tỷ lệ rủi ro cao nhưng có lợi nhuận kỳ vọng lớn, thường đầu tư ngắn hạn mà không đầu tư lâu dài vào bất cứ một loại chứng khoán nào. Nhà đầu tư tổ chức (còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp): là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn. Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị 15 Luan van trường và đưa ra các quyết định đầu tư.
Nhìn chung, có một số nhà đầu tư chuyên nghiệp sau: + Công ty đầu tư và quỹ tín thác đầu tư: được thành lập nhằm thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư cá nhân để đầu tư trên TTCK. Ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư qua các quỹ tín thác là có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm. + Công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm quản lý phí bảo hiểm của những người tham gia bảo hiểm và sử dụng số tiền đó để đầu tư dưới các hình thức như: gửi ngân hàng, đầu tư vào chứng khoán. Để đảm bảo khả năng thanh toán bảo hiểm của công ty bảo hiểm, pháp luật các nước thường có quy định khá chặt chẽ về tỷ trọng các khoản đầu tư.
+ Quỹ hưu trí và quỹ bảo hiểm xã hội khác. Các quỹ này thu phí đóng góp định kỳ của các cá nhân để sau này trả cho họ lương hưu hay các khoản trợ cấp khác. Phần phí thu được chưa phải chi trả có thể được nhà quản lý quỹ đầu tư vào các chứng khoán có độ an toàn cao như trái phiếu chính phủ. + Các công ty tài chính, các ngân hàng thương mại,… cũng có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua bán chứng khoán cho chính mình.
Người kinh doanh chứng khoán Tham gia kinh doanh chứng khoán bao gồm các tổ chức như: công ty chứng khoán (CTCK), công ty quản lý quỹ đầu tư (QLQĐT) và cá nhân hành nghề độc lập. + Công ty chứng khoán (CTCK): là tổ chức có tư cách pháp nhân kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động bao gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Trên TTCK tập trung, nhà đầu tư không được trực tiếp mua bán mà phải đặt lệnh qua thành viên giao dịch của thị trường. Đó là những nhà môi giới đã được cấp phép thành viên giao dịch.
Đây là một trong những điều kiện cơ bản đảm 16 Luan van bảo cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy, công bằng, có trật tự và hiệu quả. Vì vậy, các TTCK đều kiểm soát nghiêm ngặt việc đăng ký hành nghề môi giới, xét chọn vào thành viên TTCK, giám sát các hoạt động của nhà môi giới. + Công ty quản lý quỹ đầu tư (QLQĐT): là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.