Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trước Chương 3: Tổng quan về BHYT và BHYT TN. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất chính sách.
4 123doc CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN.1 Bảo hiểm y tế 2.1 Khái niệm về Bảo hiểm y tế. Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới ( WHO) và tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì BHYT là một phần của hệ thống an sinh xã hội của mội quốc gia và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, hoạt động vì mục đích đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp các biến cố rủi ro không lường trước được trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, tai nan…Còn theo quan điểm của Việt Nam BHYT được định nghĩa như sau : BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng tham gia được quy định rõ rang trong Luật, cụ thể là Luật BHYT số 25/2008/QH12 được ban hành ngày 14/11/2008 được sửa đổi bổ sung trong Luật 46/2014/QH13 được ban hành vào 13/06/2014 và có hiệu lực từ 01/01/2015. Cũng theo nguyên tắc chung thì Nhà nước đứng ra lập và quản lý quỹ BHYT và người tham gia có trách nhiệm trích một khoản tiền trong thu nhập để tham gia vào quỹ và được hưởng các quyền lợi tương xứng.
Khi không may gặp rủi ro về bệnh tật thì người tham gia không phải trực tiếp thanh toán chi phí KCB. Cơ quan BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT.2 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm y tế. BHYT là một trong những chủ trương của Đảng về an sinh xã hội, một chính sách của Nhà nước về chăm lo cho cuộc sống người dân, được Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của xã hội để chia sẻ cho người không may gặp rủi ro về sức khỏe. Về bản chất của BHYT thì BHYT là một hình thức mà thông qua việc tham gia vào quỹ sẽ tạo ra sự san sẻ rủi ro, nhằm giảm nhẹ những khó khăn cho người gặp phải rủi ro về sức khỏe cũng như là giảm gánh nặng cho gia đình họ.
Bên cạnh đó cũng đảm 5 123doc bảo các dịch vụ y tế cần thiết để duy trì, ổn định và điều trị cho người tham gia cho đến khi phục hồi sức khỏe. Chính sách BHYT được bắt đầu triển khai thực hiện từ nằm 1992, theo quá trình phát triển của kinh tế và xã hội, chính sách BHYT được sửa đổi và bổ sung để bắt kịp đà phát triển phù hợp hơn, tối ưu hơn cho người dân khi tham gia BHYT. Trong hơn 20 năm thực hiện thì BHYT đã thể hiện được tính phù hợp của một chính sách xã hội của Nhà nước điều này thể hiện qua sự lượng lớn người dân đã tham gia vào BHYT cũng như số lượt chi trả chi phí KCB cho người dân cũng tăng lên hàng năm, bên cạnh đó thì chất lượng dịch vụ y tế cũng tăng lên rất đáng kể. BHYT là chính sách an sinh xã hội quan trọng là lá chắn tài chính vững chắc giúp chăm sóc bảo vệ sức khỏe chủa nhân dân đặc biệt là tầng yếu thế trong xã hội như nông dân, công nhân, học sinh, sinh viên, người nghèo, gia đình hoàn cảnh khó khăn.
BHYT góp phần tạo sự bình đẳng trong KCB, người lao động và người sử dụng lao động và người dân ngày càng hiểu sâu sắc hơn và ý thức được trách nhiệm khi tham gia BHYT. Lĩnh vực chịu sự chi phối của Luật BHYT không phải là toàn bộ hoạt động y tế mà chỉ là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chữa trị bệnh cho người tham gia BHYT khi có phát sinh về bệnh tật trong khuôn khổ quy định của cơ quan BHYT.3 Đặc điểm của Bảo hiểm y tế. Việc triển khai BHYT có đặc trưng rất cơ bản sau: Thứ nhất, đặc điểm của BHYT là chia sẻ rủi ro cho số đông, lấy số đông bù số ít vì thế đối tượng tham gia BHYT phải rộng, mà đối tượng rộng thì cũng kèm theo việc quản lý, phát triển đối tượng tham gia sẽ phức tạp và khó khắn. Quy luật lấy số đông bù số ít là quy vô cùng quan trọng và là quy luật sống còn trong ngành bảo hiểm nói chung và BHYT nói riêng.
Nếu không đảm bảo được quy luật này thì việc tồn tại và phát triển của bất kỳ quỹ bảo hiểm nào là không khả thi. Thứ hai, BHYT là một chính sách trong an sinh xã hội vì thế từ trong các quy định về đóng và hưởng của BHYT đều hướng đến mục đích là đảm bảo sức khỏe cho đại 6 123doc đa số người dân cả nước, là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua cơ quan BHXH Việt Nam vì thế hoạt động của BHYT là không vì mục đích khinh doanh, lợi nhuận như những loại hình bảo hiểm khác mà BHYT kèm với BHXH thực hiện một mục đích cao hơn, sâu hơn là đảm bảo an sinh xã hội, chăm lo cuộc sống cho nhân dân từ đó đảm bảo được phát triển của kinh tế xã hội, ổn định chính trị cho quốc gia. BHYT là loại hình bảo hiểm mang tính nhân đạo, bình đẳng mọi người đều được điều trị theo bệnh. Tham gia BHYT là tự bảo vệ mình và đóng góp cho xã hội.
Nếu xét về một cá nhân bị bệnh thì chi phí KCB cho một mình là khá cao là cũng một trong những nguyên nhân dẫn tới nghèo đói. Nhưng nếu chi phí KCB đó mà được chia sẻ cho toàn xả hội thì chi phí KCB đó là rất nhỏ mà không gây ảnh hưởng gì đến thu nhập của mỗi cá nhân tham gia. Đó là tinh thần: "mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thứ ba, BHYT là loại hình dịch vụ công, khi người dân tham gia BHYT thì điều mà người dân quan tâm là chất lượng dịch vụ y tế được thụ hưởng gặp đi KCB.
Vì thế việc triển khai, phát triển, tăng tính hấp dẫn của dịch vụ này luôn luôn đi kèm với việc nâng cao chất lượng ngành y tế cụ thể là nâng cao tay nghề của y, bác sỹ, cải thiện chất lượng máy móc, vật tự y tế, cắt giảm thủ tục hành chính cũng như nâng cao cơ chế hoạt động của các cơ sở KCB từ trung ương cho đến địa phương. Người tham gia BHYT đóng tiền cho cơ quan BHXH nhưng cơ quan BHXH không trực tiếp khám chữa bệnh cho người tham gia mà chỉ là trung gian thanh toán chi phí KCB thông qua hợp đồng với các cơ sở KCB vì thế không thể tách rời việc nâng cao chất lượng y tế ra khỏi việc phát triển BHYT trong tương lại. Thứ tư, BHYT cung là một loại hình bảo hiểm vì thể BHYT sẽ cùng với các sản phẩm bảo hiểm khác như : cháy nổ, nhân thọ, phi nhân thọ để thực hiện nhiệm vụ là khắc vụ tất cả các hậu quả mà rủi ro trong cuộc sống gặp phải. Chia sẻ hậu quả đó ra toàn xã hội nhằm đưa giá trị tổn thất là nhỏ nhất, giúp cho mọi hoạt động của xã hội từ sản xuất kinh doanh, vui chơi giải trí, tín ngưỡng, được diễn ra một cách bình thường.
Đây là điều mà chính phủ các nước trên thế giới điều qua tâm, đặc biệt các nước càng 7 123doc phát triển, có trình độ dân trí càng cao thì mức độ quan tâm của nhà nước và người dân đến các sản phẩm bảo hiểm cũng tăng lên. Thứ năm, BHYT ngoài nhiệm vụ chia sẻ rủi ro về sức khỏe cho người dân còn một nhiệm vụ là cung cấp nguồn kinh phí cho ngành y tế để thực hiện các nhiệm vụ của mình. Vì hiện nay, nâng cao chất lượng KCB là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống hiện đại, để nâng cao chất lượng KCB thì kinh phí đầu tư trang thiết bị đào tạo đội ngũ y bác sỹ, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài về là một điều không thể thiếu. Theo số liệu thống kê của BHXH Việt Nam thì số tiền BHXH Việt Nam chi trả cho ngành y tế thông qua việc chi trả tiền KCB cho người tham gia : năm 2015 là 47.
Trong tình hình bội chi ngân sách nhà nước tăng cao, chi đầu tư còn eo hẹp thì việc huy động nguồn vốn bổ sung vào ngành y tế để đẩy nhanh việc đâu tư cải thiện chất lượng là cần thiết. Vì thế thông qua việc tham gia BHYT sẽ tạo ra một nguồn kính phí hỗ trợ ngành y tế nhằm góp phần nâng cao chấ lượng KCB, nâng cấp cơ sở y tế, làm cho chất lượng phụ vụ của ngành y tế ngành càng tốt hơn.4 Đối tượng và hình thức Bảo hiểm y tế. Về hình thức thì BHYT có hai hình thức chủ yếu đó là BHYT bắt buộc và BHYT TN BHYT bắt buộc cho những đối tượng sau: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật. Người được trợ cấp mất sức, hưởng lương hưu hằng tháng từ cơ quan BHXH.
Người từ đủ 80 tuổi, hưởng chế độ tuất hàng tháng, thuộc đối tượng đang hưởng trợ cấp từ cơ quan BHXH do bị bệnh dài ngày, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 8 123doc Cán bộ thuộc biên chế là cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc và đang thụ hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng hoăc từ ngân sách nhà nước Người bị mất việc và đang hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiêp từ cơ quan BHXH. Tất cả người lao động hoạt động, công tác trong quân đội, công an từ chuyên nghiệp cho đến hợp đồng kể cả học viên các trường quân đội công an. Thân nhân của quân nhân, công an.
Người đang hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước, người có công với cách mạng, cựu chiến binh. Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống. Học sinh, sinh viên. Người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, khó khăn.
Người thuộc dân tộc ít người, hiện đang sinh sống tại các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. Người dân bất kì sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn; sinh sống tại nhưng nơi được xác định là huyện đảo, xã đảo, xa đất liền.