Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết quản trị nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển công tác của nhân viên marketing. Từ đó nghiên cứ đưa ra các thành phần trong mô hình chuyển công tác của nhân viên marketing áp dụng cho ngành bưu chính viễn thông trong các doanh nghiệp phía nam. Chương này bao gồm (1) lý thuyết quản trị nguồn nhân lực, (2) nhân viên marketing; (3) các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển công tác của nhân viên marketing trong doanh nghiệp bưu chính viễn thông khu vực phía nam, (4) các dịch vụ bưu chính viễn thông.2 Quản trị nguồn nhân lực.
Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.2 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực. 8 Quản trị nguồn nhân lực gồm 3 mục tiêu chính : thu hút, đào tạo phát triển và duy trì nguồn nhân lực. Ba chức năng này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Mô tả mối quan hệ giữa 3 mục tiêu như sau: Hình 2.1 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực 2.3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực.
- Thiết lập chính sách. - Thực hiện các chức năng. - Kiểm tra đôn đốc.3 Nhân viên marketing. Đội ngũ nhân viên marketing là lực lượng chính ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Họ chính là lực lượng chính tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. 9 Nhân viên marketing bao gồm các hình thức như sau: - Nhân viên ở vị trí quản lý marketing; - Nhân viên lập kế hoạch marketing, nhân viên thiết kế và quản lý công tác nghiên cứu thị trường, chuyên trách quảng cáo, PR, khuyến mãi …; - Nhân viên kinh doanh; - Nhân viên chăm sóc khách hàng … 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển công tác của nhân viên. Theo các kết quả nghiên cứu gần đây về các nhân tố có khả năng ảnh hưởng quan trọng đến quyết định chuyển công tác của nhân viên (Griffith & Lusch, 2007). thì quyết định chuyển công tác của nhân viên trong lĩnh vực marketing chủ yếu dựa trên nhận thức của nhân viên về cấu trúc của tổ chức.
Các yếu tố tác động đến nhận thức của nhân viên về tổ chức bao gồm: 2.1 Cam kết tổ chức – organizational commitment : Sự cam kết với tổ chức phản ánh mối quan hệ tâm lý đa chiều về sự gắn kết giữa thành viên với tổ chức. Điều này đóng vai trò tích cực trong việc duy trì thành viên trong một tổ chức. Cam kết tổ chức chính là khía cạnh tâm lý đặc thù cho mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức mà nó tác động đến quyết định có tiếp tục làm thành viên của tổ chức hay không. Theo nghiên cứu của Meyer & Allen (1991) thì cam kết với tổ chức được phân chia thành 3 nhân tố: - Cam kết thuộc về yếu tố tình cảm của nhân viên – Affective commitment: Điều này phục thuộc vào sự gắn kết mang tính cảm xúc của nhân viên và tổ chức.
Nếu nhân viên có cam kết thuộc về tình cảm cao thì có động lực đóng 10 góp vào sự phát triển của tổ chức càng lớn bởi vì họ xem mục tiêu của tổ chức cũng giống như là mục tiêu của họ. Các cam kết thuộc về yếu tố tình cảm phụ thuộc vào 2 vấn đề. Thứ nhất đó là vấn đề của cá nhân như : tuốc tác, giáo dục, định hướng phát triển, gia đình … và các nhân tố mang tính cá nhân khác. Thứ hai là những yếu tố thuộc về tổ chức như sự kỳ vọng vào vị trí của bản thân nhân viên, mục tiêu của doanh nghiệp, định hướng của công việc rõ ràng và sự hỗ trợ từ cấp quản lý.
- Cam kết mang tính liên tục – Conituance commitment : các cam kết này là nhận thức về chi phí khi thuyên chuyển công việc. Chi phí này bao gồm những khoản lợi ích bằng tiền bị cắt giảm khi chuyển công tác, chi phí cho việc tìm công việc mới và những rủi ro khi thất nghiệp. Nếu nhân viên nhận thấy cơ hội tìm việc bên ngoài tổ chức càng ít thì chi phí chuyển công tác càng lớn. Điều này làm cho cam kết liên tục của nhân viên và tổ chức càng cao.
- Cam kết giá trị - Normative commitment: là những cam kết mà mỗi cá nhân cảm thấy có trách nhiệm duy trì với tổ chức mà mình đang làm thành viên. Người nhân viên cảm thấy có trách nhiệm với công việc mà họ đang phụ trách. Nhân viên nhận thức được việc tiếp tục duy trì công việc với tổ chức là một điều đúng với đạo đức và hợp lý. Cam kết giá trị của nhân viên phụ thuộc vào sự đầu tư của tổ chức cho nhân viên.
Trong nghiên cứu của Dunham, Grube & Castaneda (1994) khảo sát 2734 người nhân viên khám phá ra mối quan hệ giữa 3 nhân tố ảnh hưởng đến cam kết tổ chức là khi người lãnh đạo phản hồi về những đóng góp của nhân viên và khi người nhân viên càng được tham gia sâu vào quá trình ra quyết định thì cam kết thuộc yếu tố tình cảm của họ sẽ càng mạnh mẽ hơn. 11 Họ sẽ có mong muốn làm việc cho tổ chức và xây dựng một mối liên hệ với tổ chức dài lâu hơn. Giả thuyết H1 : Thành phần sự cam kết với tổ chức càng có giá trị nhiều thì quyết định chuyển công tác của nhân viên marketing trong doanh nghiệp bưu chính viễn thông khu vực phía nam càng ít và ngược lại. Nói cách khác, mối quan hệ giữa sự cam kết với tổ chức với quyết định chuyển công tác là nghịch chiều.2 Niềm tin tổ chức – organizational trust : Niềm tin vào tổ chức là văn hóa của doanh nghiệp thể hiện sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên và giữa cấp nhân viên với cấp quản lý.
Niềm tin vào tổ chức phụ thuộc vào các nhân tố như lợi nhuận, sự cải tiến và mức hiệu quả của doanh nghiệp. Khi trong tổ chức có sự tin tưởng càng cao thì càng có nhiều thành quả vượt trội, giao tiếp trong tổ chức trở nên “mở” hơn và sự thân thiện giữa các thành viên càng được củng cố hơn. Sự tin tưởng vào tổ chức và ngược lại được quyết định chủ yếu dựa vào các nhân tố như : vai trò của cá thể trong tổ chức, trách nhiệm, mối quan hệ trong tổ chức, kinh nghiệm làm việc và sự tự quyết trong công việc. Niềm tin tổ chức có thể tăng cường bằng cách giữa lãnh đạo và nhân viên chia sẻ trách nhiệm.
Lãnh đạo cho phép nhân viên đóng góp ý kiến, tham gia vào trong việc ra quyết định. Ngoài ra nhân viên còn mong muốn lãnh đạo có thể chia sẻ thông tin với họ mặc dù đó là những thông tin vui hoặc thông tin không hay về tổ chức. Nhân viên mong muốn được quan tâm đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn hoặc nhận được sự quan tâm mang tính chất cá nhân. Tóm lại niềm tin tổ chức sẽ tăng lên mạnh mẽ nếu mối quan hệ 12 giữa nhân viên và lãnh đạo được thiết lập trên mối quan hệ đối tác hơn là mối quan hệ về quyền lực.
Khi niềm tin tổ chức càng cao thì sự gắn bó của nhân viên vào tổ chức càng lớn. Họ sẽ ít có ý định chuyển công tác hoặc tìm kiếm một cơ hội mới ở một đơn vị khác. Giả thuyết H2: Thành phần niềm tin vào tổ chức càng có giá trị nhiều thì quyết định chuyển công tác của nhân viên marketing trong doanh nghiệp bưu chính viễn thông khu vực phía nam càng ít và ngược lại. Nói cách khác, mối quan hệ giữa niềm tin vào tổ chức với quyết định chuyển công tác là nghịch chiều.3 Mức độ hài lòng của nhân viên đối với công việc và tổ chức – Job satisfaction : Theo nghiên cứu của Mosadeghrad, Ferlie & Rosenberg (2008) thì mức độ hài lòng với công việc phản ánh thái độ của người nhân viên với công việc của mình.
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhân viên chính bao gồm những nhân tố bên ngoài công việc và những nhân tố bên trong công việc. - Các nhân tố bên trong công việc : Sự thử thách trong công việc, cơ hội được đóng góp hoặc phát triển trong công việc của người nhân viên. - Các nhân tố bên ngoài công việc : Lương thưởng công bằng, điều kiện hỗ trợ cho công việc, sự giám sát kiểm tra, sự an toàn trong công việc, và sự hỗ trợ của đồng nghiệp. Sự hài lòng của nhân viên chính là kết quả của sự đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của nhân viên trong môi trường công việc.
Khi sự hài 13 lòng trong công việc tăng lên thì sẽ tác động đến giá trị lợi nhuận trong chuỗi giá trị lợi nhuận dịch vụ. Theo nghiên cứu của Irving, Coleman & Cooper (1997) khảo sát 232 người nhân viên thì kết quả cho thấy một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa những cam kết giá trị, cam kết thuộc yếu tố tình cảm và mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên. Theo nghiên cứu này cũng cho chúng ta thấy được mối quan hệ nghịch biến giữa nhân tố cam kết liên tục và mức độ hài lòng trong công việc. Giả thuyết H3 : Thành phần sự hài lòng trong công việc càng có giá trị nhiều thì quyết định chuyển công tác của nhân viên marketing trong doanh nghiệp bưu chính viễn thông khu vực phía nam càng ít và ngược lại.
Nói cách khác, mối quan hệ giữa sự hài lòng của nhân viên với quyết định chuyển công tác là nghịch chiều.4 Quyết định chuyển công tác – intention to turnover : Sự gắn bó với doanh nghiệp của người lao động thể hiện ý định không hợp tác với doanh nghiệp trong thời gian tương lai. Ngoài 3 nhân tố như trên nó còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài môi trường như tỷ lệ thất nghiệp, cầu lao động của thị trường, cơ hội để tìm được việc làm mới và các nhân tố bên trong của người lao động như tuổi tác, chuyên môn, và kinh nghiệm. Quyết định chuyển công tác của nhân viên vào tổ chức được đánh giá dựa trên ba cấp độ : - Người nhân viên đang chuẩn bị chuyển công tác đến một tổ chức mới và hiện tai đang trong quá trình chuẩn bị bàn giao công việc. Mức độ gắn bó của nhân viên với tổ chức trong trường hợp này rất thấp.