CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN ĐẤT PHỤC VỤ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP 1. Đất và mục tiêu sử dụng đất trong nền kinh tế 1. Đất và vai trò của đất trong nền kinh tế 1. Đất và nguyên tắc sử dụng đất Trong cuộc sống đất đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó là một phần thiết yếu của đời sống con người cũng như bất kể loài sinh vật nào trên trái đất.
Đất theo nghĩa thông thường nhất là phần mỏng nằm trên bề mặt của trái đất mà không bị nước bao phủ. Tuy nhiên, trong các ngành khoa học có liên quan đến đất đai như kinh tế học, thổ nhưỡng học, địa chất học v.v thì có những khái niệm hay thuật ngữ hoàn toàn khác nhau khi nói tới đất. Trong thổ nhưỡng học, đất được hiểu như là các loại vật chất tạo thành lớp mỏng nằm ở bề mặt trái đất, có khả năng hỗ trợ việc sinh trưởng của giới thực vật. Trong xây dựng, đất được coi là nền chịu lực của đa số các công trình xây dựng.
Được nghiên cứu về tính chất vật lý và cơ học trong các môn khoa học. Đất trong xây dựng là một đối tượng công tác trong thi công xây dựng, quy hoạch xây dựng (san, lấp, đào, đắp…). Trong kinh tế học, đất bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên như vị trí địa lý, các tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất, và thậm chí các thành phần của phổ điện tử. Trong kinh tế học cổ điển nó được coi là một trong các yếu tố sản xuất, bên cạnh các yếu tố khác như là tư bản và sức lao động.
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp và là điều kiện không thể thiếu cho các ngành kinh tế khác. Vai trò của đất càng gia tăng trước những biến đổi về dân số, bởi sự gia tăng dân số là giă tăng nhu cầu về nơi cư trú, và cũng thúc 10 đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Nhu cầu sử dụng đất cho sinh hoạt và sản xuất gia tăng.
[3] Nguyên tắc sử dụng đất: [7], [26 Thứ nhất, thực hiện đúng quy hoạch, kế hoạch và mục đích sử dụng đất. Trong đó cần khoanh định hợp lí đất đai, phân định rạch ròi giữa đất phục vụ các ngành, các lĩnh vực, tránh chồng chéo, lấn chiếm gây tranh chấp. Đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, cơ sở kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị cần được mở rộng nhằm phục vụ mục tiêu đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy vậy cũng cần khoanh định hợp lí quỹ đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia.Ranh giới đất quy hoạch dành cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp không rõ rang, khó xác định có thể gây ra tình trạng phá rừng trồng cây công nghiệp, cây lương thực và nuôi trồng thủy sản.
Bên cạnh đó, để tránh tình trạng thực hiện các dự án bị thừa hoặc thiếu đất thì trong quy trình lập kế hoạch sử dụng đất cần có những dự báo tốt, được tính toán khoa học về nhu cầu sử dụng quỹ đất. Tính dân chủ, minh bạch cần được đề cao trong quá trình quy hoạch sử dụng đất, cần đề cao vai trò giám sát của người dân. Các ý kiến phản hồi của người dân địa phương là cần thiết nhằm kiểm soát các sai phạm cũng như để điểu chỉnh lại kế hoạch một cách hợp lí, linh hoạt. Thứ hai, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất đai.
Để sử dụng đất tiết kiệm cần phải sử dụng đúng mục đích sao cho sát với nhu cầu thực tế và đạt hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng xây dựng dàn trải, các công trình bị dừng thi công giữa chừng, đất chổ thừa chỗ thiếu. Chẳng hạn, có những người nông dân thiếu đất hay thậm chí không có đất nông nghiệp để cày cấy, trong khi có những mảnh đất nông nghiệp được quy hoạch thành những khu công nghiệp nhưng làm ăn kém hiệu quả hoặc bị bỏ hoang trong nhiều năm. Do đó để việc sử dụng đất có hiệu quả thì quan trọng nhất là trước đó phải có công tác quy hoạch khoa học, thực tế. Đối với đất sản xuất nông nghiệp, cần tính toán nhu cầu lương thực thực phẩm cụ thể để tính toán quỹ đất cần thiết cho sản xuất lương thực.
Việc xây dựng các khu công nghiệp mới cần dựa trên cơ sở lợi thế cạnh tranh, chú trọng quy hoạch theo vùng theo địa giới hành 11 chính. Quy hoạch các khu đô thị cần căn cứ vào mức độ phát triển kinh tế, khả năng tài chính của nhà đầu tư, thu nhập và nhu cầu của người dân, bảo đảm cân đối cung cầu, chống đầu cơ. Đầu tư phát triển khu đô thị phải đồng bộ, đảm bảo quan hệ hợp lí giữa diện tích xây dựng với diện tích cơ sở hạ tầng, diện tích cây xanh, đảm bảo điều kiện sinh hoạt của dân cư. Thứ ba, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
Việc sử dụng đất cần lồng ghép với bảo vệ môi trường. Quy hoạch phải phù hợp chức năng môi trường của từng khu đất, tránh tình trạng vượt quá sức chịu tải ô nhiễm của môi trường; khai thác sử dụng tài nguyên đất và nước không vượt quá khả năng đáp ứng. Cần xem xét lợi ích về kinh tế- xã hội trước khi chuyển đổi quy hoạch. Đồng thời, phải dành quỹ đất xây dựng hế thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó, thích nghi với thiên tai và biến đổi khí hậu.
Người sử dụng đất thực hiện và các quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai. Để sử dụng đất có hiệu quả thì các qui định pháp luật về sử dụng đất đai cần được thực hiện một cách nghiêm túc, minh bạch. Cần kiểm soát nghiêm ngặt để hạn chế tối đa những tiêu cực trong quá trình này. Có như thế mới tránh được những kiện tụng, tranh chấp về sử dụng đất.
Nguyên tắc quản lý đất đai [27] Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai là các quy tắc xử sự, những tiêu chuẩn cơ bản về hành vi mà các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể sử dụng đất đai phải tuân thủ trong quá trình quản lý. Các nguyên tắc quản lý do con người đặt ra, nhưng chúng không phải do sự suy nghĩ chủ quan của con người, mà chính là sự phản ánh, sự thể hiện các yêu cầu của các quy luật khách quan. Như vậy, các nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai được hình thành, trước hết bắt nguồn từ yêu cầu của các quy luật khách quan, do các quy luật khách quan chi phối. 12 Một là, đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước về đất đai Đất đai là tài sản quốc gia, là lãnh thổ bất khả xâm phạm của cả dân tộc.
Vì vậy không thể có bất kỳ một cá nhân nào, hay một nhóm người nào có thể chiếm hữu tài sản chung thành của riêng và tùy ý áp đặt quyền định đoạt cá nhân đối với tài sản chung đó. Chỉ có Nhà nước - người đại diện hợp pháp duy nhất của mọi tầng lớp nhân dân mới được giao quyền quản lý tối cao về đất đai. Trên phương diện này chúng ta có thể thấy tất cả các quốc gia trên thế giới từ xưa đến nay, nhà nước đều thực hiện quản lý tập trung thống nhất về đất đai. Mặt khác, đất đai là yếu tố đầu vào của các ngành sản xuất, của các doanh nghiệp, là cơ sỏ, nền tảng của các tổ chức chính trị xã hội khác, được Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng với mục tiêu là tăng cường quản lý chặt chẽ và sử dụng hợp lý có hiệu quả đất đai.
Tuy nhiên quyền sử dụng đất phải trong khuôn khổ luật pháp và quản lý thống nhất của Nhà nước. Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước được thực hiện theo luật pháp và được thể hiện trên nhiều mặt như: đại diện chủ quyền quốc gia về lãnh thổ; quyền giao đất sử dụng lâu dài cho các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân; quyền cho các tổ chức nước ngoài thuê đất; quyền xác định khung giá đất, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai, nhà ở V. Để thực hiện quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, trước hết Nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản của mình như: vấn đề quy hoạch đất, nhà ở; kế hoạch sử dụng đất và xây dựng nhà ở; các công cụ tài chính và đặc biệt là công cụ luật pháp và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Cùng với các công cụ quản lý, việc Nhà nước nắm và sử dụng các phương pháp quản lý thích hợp cũng là điều kiện để duy trì việc bảo đảm quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước về đất đai.
Thực tế đã cho chúng ta thấy: Nếu nhà nước sử dụng tốt công cụ quản lý và phương pháp quản lý thì quyền quản lý tập trung thông nhất về đất đai được duy trì và bảo đảm ỏ mức độ cao. Ngược lại, nếu có những thời điểm nào đó, các công cụ quản lý sử dụng không tốt, không đồng bộ, các phương pháp quản lý sử dụng không 13 mềm dẻo thì quyền quản lý tập trung thống nhất đất đai, nhà ở có phần giảm đi, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, cấp phát và sử dụng đất đai, nhà ở bừa bãi sẽ tăng lên rất nhiều. Những tồn tại trên đây có thể gây ra nhiều hậu quả không tốt đối với nhiều vấn đề về trật tự và an toàn xã hội, hiệu quả sử dụng đất đai, nhà ỏ, làm suy giảm quyền quản lý tập trung thống nhất về đất đai. Hai là, đảm bảo sự kết hợp quyền sở hữu và sử dụng đất đai Muốn kết hợp tốt quyền sỏ hữu và sử dụng phải có cơ chế kết hợp, trong đó trách nhiệm và quyền lợi của người sử dụng phải được công nhận và được thể chế hóa bằng các văn bản luật pháp và mọi đối tượng sử dụng đều phải là người chủ đích thực của nó.