Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận về mô hình nghiên cứu và một số ý kiến đề xuất 1. Giới thiệu về các chi nhánh BIDV trên địa bàn tỉnh Bình Dương Mạng lưới hoạt động: gồm 5 chi nhánh là Bình Dương, Nam Bình Dương, Thủ Dầu Một, Dĩ An – Bình Dương và Mỹ Phước. Có hơn 15 Phòng giao dịch trải rộng khắp địa bàn tỉnh Bình Dương (Website: bidv. Trong đó, 4 chi nhánh là chi nhánh Nam Bình Dương, chi nhánh Thủ Dầu Một, chi nhánh Dĩ An – Bình Dương và chi nhánh Mỹ Phước là những chi nhánh đi lên từ Phòng giao dịch của chi nhánh chính là chi nhánh Bình Dương.
Thời gian thành lập của các chi nhánh ứng với thời gian bắt đầu hoạt động TTTM cụ thể như sau: Chi nhánh Bình Dương thành lập từ năm 1987 và bắt đầu hoạt động TTTM từ năm 1994; Chi nhánh Nam Bình Dương thành lập và hoạt động TTTM từ năm 2006; Chi nhánh Thủ Dầu Một thành lập và Luan van 13 hoạt động TTTM từ năm 2015; Chi nhánh Dĩ An – Bình Dương thành lập và hoạt động TTTM từ năm 2015; Chi nhánh Mỹ Phước thành lập và hoạt động TTTM từ năm 2010. Quy mô thị phần TTTM trên địa bàn: hiện hệ thống BIDV chiếm thị phần khoảng 20% của toàn tỉnh Bình Dương, tuy không phải là ngân hàng đứng đầu về quy mô đối với dịch vụ này nhưng nhìn chung vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn (Ngân hàng nhà nước tỉnh Bình Dương, 2018). Trong nội bộ 5 chi nhánh tại địa bàn tỉnh Bình Dương, thị phần TTTM chủ yếu tập trung cao nhất tại chi nhánh Bình Dương và chi nhánh Nam Bình Dương. Nguyên nhân chính là do quá trình thành lập lâu năm của hai chi nhánh này, thêm vào đó là một nền khách hàng truyền thống sử dụng sản phẩm TTTM lâu năm và thân thiết tại đây (Báo cáo hoạt động TTTM tại BIDV qua các năm) TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Chương 1 cho ta cái nhìn tổng quan về sự cần thiết và tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài, bên cạnh đó tóm lược sơ bộ về các phương thức và mục tiêu mà tác giả muốn hướng đến khi thực hiện nghiên cứu sự không hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ TTTM của các ngân hàng BIDV tại tỉnh Bình Dương.
Thông qua việc giới thiệu một số đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, ta có thể thấy, tuy việc khảo sát nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng đối với một sản phẩm dịch vụ là không còn xa lạ, thế nhưng đưa sự không hài lòng là đối tượng nghiên cứu để khái quát thành mô hình lại chưa được phổ biến, đặc biệt là đối với lĩnh vực dịch vụ ngân hàng nói chung cũng như đối với dịch vụ TTTM nói riêng. Đây chính là điểm mới của đề tài nhưng cũng là khó khăn trong quá trình xây dựng mô hình nghiên cứu. Luan van 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về dịch vụ Tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm về Tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mại Dựa vào mối quan hệ trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thông qua trao đổi quốc tế theo khái niệm được nhắc đến tại Điều 3 trong Luật thương mại Việt Nam 2005, đã tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển của hoạt động TTTM. Về phía ngân hàng, việc thực hiện tài trợ thương mại quốc tế cũng đem lại lợi ích về thu nhập, do đó các ngân hàng luôn nỗ lực để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế (Nguyễn Thị Quy, 2012). Đến với khái niệm TTTM được định nghĩa bởi WTO (2003) trong chủ đề “Improving the Availability of Trade Finance during Financial Crises” ta có thể tóm lược hoạt động này là một hoạt động hỗ trợ tài chính ngắn hạn phục vụ cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế, đây là hoạt động diễn ra thường xuyên và cần thiết đối với các doanh nghiệp XNK trên thị trường. Với định nghĩa này, bài phân tích khẳng định, TTTM tuy là quá trình hỗ trợ tài chính ngắn hạn nhưng liên quan mật thiết đến cả dòng đời sản phẩm trong kinh doanh quốc tế.
Tiếp đến, khái niệm TTTM được định nghĩa trong Cẩm nang Tài trợ thương mại quốc tế của Nguyễn Văn Tiến (2008) như sau: “TTTM của NHTM là việc NHTM dùng uy tín (credit) và tài chính (capital) của mình để hỗ trợ, tài trợ cho các hoạt động thương mại từ khâu sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm trên thị trường thế giới”. Tại định nghĩa này, khái niệm về TTTM tại NHTM thể hiện được bản chất của hoạt động này trong suốt quá trình kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp và sử dụng dịch vụ này như phương tiện cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trong Cẩm nang nghiệp vụ Tài trợ thương mại của BIDV, TTTM được định nghĩa là việc ngân hàng thương mại dùng uy tín và tài chính của mình để hỗ trợ, tài trợ cho các hoạt động thương mại từ khâu sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm trên thị trường thế giới. TTTM được hiểu là hệ thống nghiệp vụ liên quan đến việc quản lý và thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế và tài trợ XNK như nhờ thu, thư tín dụng, bảo lãnh, phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng, biên lai tín thác, thanh Luan van 15 toán tài khoản mở, bao thanh toán đối ứng, bao thanh toán tuyệt đối, mua bán, chiết khấu hối phiếu, chứng từ liên quan đến XNK, cam kết chia sẻ rủi ro, tài trợ cơ cấu, tái tài trợ và các dịch vụ khác cho thương mại quốc tế.
Đặc điểm của hoạt động Tài trợ thương mại Tại giáo trình “Tài trợ thương mại quốc tế” của Nguyễn Thị Quy (2012) và “Cẩm nang tài trợ thương mại quốc tế) của Nguyễn Văn Tiến (2005), các đặc điểm chung của hoạt động TTTM được khái quát bởi một số khía cạnh như sau: Thứ nhất, TTTM mang nội hàm rộng. Khái niệm bao hàm cả các hình thức tài trợ hữu hình và vô hình. Về hữu hình, đó là các hoạt động cấp vốn (financing), cho vay (loan) hoặc tín dụng (credit) nhằm giúp doanh nghiệp bổ sung trực tiếp vào nhu cầu về nguồn tài chính của mình, thông thường được cung cấp bởi các NHTM. Thứ hai, TTTM của NHTM được đề cập đến trong luận văn là hoạt động tài trợ tài chính cho doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi, đem lại lợi nhuận thông qua phí dịch vụ cho ngân hàng.
Thứ tư, tuỳ thuộc vào quy mô giá trị sản phẩm lớn hay bé và tính chất kinh doanh, hay yêu cầu tài trợ của doanh nghiệp mà việc TTTM có thể cho một, một số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất phục vụ thương mại quốc tế. Thông thường, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu luôn thiếu hụt vốn và khao khát nhận được nguồn tài trợ thương mại trong cả quá trình sản xuất vì vậy điều họ cần chính là nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư vào máy móc, nguyên vật liệu vì cho tới tận khi bán được hàng nguồn vốn mới được quay vòng. Cuối cùng, TTTM là một loại hình kinh tế, cho nên điều tất yếu rằng sẽ luôn vận hành hai chiều: đó là nhận tài trợ từ bên ngoài và tài tài trợ ngược lại cho bên ngoài. Mỗi bên tham gia vào hoạt động TTTM một mặt đem gói tài chính hoặc chính sách của mình hỗ trợ cho một bên khác, một mặt luôn mong muốn nhận lại những lợi ích theo đúng mục tiêu của họ, ngược lại bên nhận hỗ trợ TTTM cũng luôn phải trả giá hoặc trả lại những lợi ích gì đó về lợi ích tài chính hoặc phí tài chính cho bên tài trợ, với giới hạn nghiên cứu bên tài trợ chính là các NHTM.
Vai trò của hoạt động Tài trợ thương mại Ngày nay, với xu hướng phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đồng Luan van 16 thời vấn đề hội nhập luôn đặt lên hàng đầu thì việc phát triển hoạt động TTTM là hoạt động cơ bản, quan trọng không thể thiếu của các NHTM. Theo giáo trình “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại” của Lê Văn Tề (2007), việc đem đến dịch vụ TTTM với chất lượng tốt với vai trò trung gian thanh toán của các ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho doanh nghiệp là khách hàng, cho nền kinh tế quốc gia cũng như cho chính bản thân các ngân hàng, cụ thể như sau: 2. Đối với doanh nghiệp Trong nghiên cứu của US Department of Commerce về “International Trade Administration” (2007), cũng chỉ ra được vai trò mà hoạt động TTTM đem lại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở hoạt động thương mại quốc tế. Trong suốt các quá trình trên, cả người nhập khẩu và người xuất khẩu đều cần có sự tài trợ về vốn để có thể nâng cao uy tín, tạo lòng tin với đối tác và đảm bảo có tài chính trong quá trình xuất nhập khẩu.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, với giá trị hàng hóa giao dịch rất lớn, doanh nghiệp thường phải thông qua TTTM để được cấp tín dụng mới có thể đảm bảo được nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh quốc tế của mình. Điều này giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt và mở rộng sản xuất kinh doanh. NHTM thông qua việc TTTM có thể giúp nhà xuất khẩu có những điều khoản ưu đãi thanh toán dành cho người nhập khẩu. Điều này giúp các doanh nghiệp nắm bắt ngay được thời thời cơ kinh doanh, mua hàng và nhận hàng đúng thời điểm nhưng lại với mức chi phí và giá thành tốt nhất.
Hoạt động TTTM giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong kinh doanh. Trong việc tìm kiếm đối tác, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay đang vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới thành lập. Đó cũng chính là cơ sở để ngân hàng cho ra đời hình thức tài trợ bằng hình thức bảo lãnh. Với hình thức này, ngân hàng đã thay mặt doanh nghiệp đứng ra bảo đảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng, góp phần làm tôn thêm được hình ảnh của doanh nghiệp, làm tăng thêm niềm tin đối với đối tác, như vậy doanh nghiệp sẽ giành được ưu thế cạnh tranh từ các đối thủ và dễ dàng giành được hợp đồng thương mại quốc tế.