CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE ĐÔ THỊ HOÁ 1.1 KHAI NIEM DO THI, DO THI HOA VA PHAT TRIEN DO THI BEN VUNG 1.1 Đô thị va phan loại đô thi 1.1 Khái niệm và những đặc trưng của đô thị Đồ thi là những thành phó, thị xã, thị tran là những không gian cư trú của con người, ở đó cư dân sống tập trung với mật độ cao, lao động chủ yếu làm việc trong khu vực phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất định. Lãnh thổ đô thị: Là giới hạn về mặt hành chính của đô thị. Các đơn vị hành chính của đô thị ở Campuchia gồm: Quận và Phường Những đặc trưng của đô thị -Mật độ dân số Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức tập trung dân cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn nội thị của đô thị, đơn vị tính: Người/km2. Dân số đô thị thương phân bố không đều, càng gân trung tâm thì mật độ dân sô càng cao.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 60%, tỷ lệ này chỉ tính trong nội thị. Lao động phi nông nghiệp là những lao động làm việc trong các ngành: công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, xây dựng, và các loại hình dịch vụ (Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, tai chính ngân hàng, cơ quan hành chính, van hóa, giáo dục, y tế, phục vụ nghiên cứu Khoa học kỹ thuật.) - Cơ sở hạ tang đô thị: Co sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật (giao thông, bưu điện, thông tin - liên lạc, cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước, xử lý phân rác, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uông, nghỉ dưỡng, y tê, văn hóa, giáo dục, đảo tạo, nghiên cứu khoa học, thé dục thể thao, công viên, cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác). Yếu tố cơ sở hạ tang đô thị phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghỉ sinh hoạt của cư dân đô thị và được xác định theo các chỉ tiêu cơ bản sau: - Chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt: Lít/người - ngày. - Chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt: KWh/người.
- Mật độ đường phố: Km/km2 và đặc điểm hệ thống giao thông. - Tỷ lệ tầng cao trung bình; mật độ xây dựng ; Diện tích sàn sử dụng - Vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Vai tro đô thị là các trung tâm kinh tế chính trị, văn hoá của vùng, đô thị có vai trò thúc đây phát triển kinh tế-xã hội của vùng hoặc khu vực Từ các đặc trưng của đô thị, các vấn đề quản lý đô thị được đặt ra khác với quản lý nông thôn trên tat cả các lĩnh vực kinh tế xã hội .2 Phân loại đô thị Phân loại đô thị là cơ sở xây dựng chính sách phát triển đô thị và quản lý đô thi. Các tiêu chi được sử dụng dé phân loại đô thị là : Chức năng đô thị; quy mô dân số, ty lệ lao động phi nông nghiệp, mức độ hoàn thiện về cơ sở hạ tang. - Theo quy mô dân số thành thị, đô thị có thé chia thành 5 loại như sau: + Đô thị rất lớn > 1 triệu dân + Đô thị lớn 35 vạn - | triệu + Đô thị trung bình 10 vạn - 35 vạn + Đô thị trung bình nhỏ 3 vạn - 10 vạn + Đô thị nhỏ Dưới 3 vạn - Theo tính chất các đô thị được chia thành: đô thị công nghiệp, đô thị dịch vụ, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị khoa học; - Theo phân cấp quản lý đô thị: Thủ đô; Thành phó; Thị xã; Thị tran; - Theo vùng lãnh thổ: đô thị đồng bằng, đô thị miền núi, đô thị ven biển - Theo vai trò tạo vùng: đô thị trung tâm và đô thị vệ tính.
Thực tế Campuchia, do kết quả của sự tăng trưởng dân số đô thị trong điều tra dân số quốc gia năm 2008, 19,5% dân số Campuchia là dân số đô thị. Theo định nghĩa của Bộ kế hoạch, căn cứ dé phân loại đô thị là: - Có mật độ dân số > 200 người/km? - Ty lệ lao động nam phi nông nghiệp > 50% - Có tổng dân số > 2000 người Van đề lớn nhất trong sự phân loại đô thị này là căn cứ dé phân loại trên không được công nhận rộng rãi từ mọi tô chức chính phủ.2 Đô thị hoá, và các mô hình phát triển đô thị 1.1 Khái niệm và đặc điểm của đô thị hoá Đô thị hoá là hiện tượng phúc tạp, cần xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Một không gian là đô thị hoặc chưa phải là đô thị được phân biệt bởi những tiêu chí về quy mô và, mức độ tập trung dân cư, trình độ cơ sở hạ tầng, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, vai trò trung tâm,ắmc độ ảnh hưởng lan toa ra khu vực. Những tiêu chí đó đều mang tính quy ước.
Từ khái niệm đô thị ta có thể nêu đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển các yếu tố đô thị như dân số, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng v. sự khác biệt về đô thị và nông thôn chính là các yếu tô đô thị. Về mặt hình thức, ta thấy đô thị hoá diễn ra ở những vùng chưa phải đô thị (nông thôn) và cả những vùng đã là đô thị, có thé thấy đô thị hoá là sự biến đổi lối sống, tập quán sinh hoạt trên cơ sở biến đổi điều kiện, tiện nghi theo hướng nâng cao mức sống dân cư. Về mặt sản xuất từ chỗ con người sản xuất phân tán với phương thức nông nghiệp là chủ yếu sang hình thức sản xuất tập trung và sản xuất công nghiệp, dich vụ là chủ yếu, sức sản xuất lớn hơn, vai trò thúc day kinh tế - xã hội của vùng và khu vực mạnh hơn.
Về mặt xã hội, đô thị hoá là là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo “kiểu đô thị” là sự biến đổi từ “lối sống nông thôn” lên “lôi sông đô thị” của các nhóm dân cư. Điêm nôi bật của nó là sự phô biên lôi sông thành phố cho nông thôn (từ hình thức nhà cửa, tiện nghi, phong cách làm việc, quan hệ xã hội đến cách thức sinh hoạt v.) Từ góc độ nền kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá trình phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bồ trí din cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu. Quá trình đô thị hoá được biểu hiện cụ thé trên các phương diện như tăng quy mô và mật độ dân cư, phát triển kinh tế, chuyên dịch cơ cầu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tăng vai trò thúc day sự phát triển kinh tế xã hội trong khu vực. Điểm dễ nhận thấy nhất sự phát triển vùng ngoại vi của thành phố là phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng.
Sự phát triển kinh tế, trong đó sự hình thành và phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ là tiền đề của quá trình đô thị hoá. Sự phát triển các ngành dịch vụ làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi và làm tăng khả năng tài chính đô thị và do đó đô thị có khả năng mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thu hút lao động, tăng quy mô dân cư v. Tăng cường cơ sở hạ tầng trở thành yêu cầu cần thiết của sự phát triển kinh tế, yêu cầu đời sống cư dân đô thị. Việc mở rộng, hiện đại hoá, xây dựng mới đường sá và các công trình giao thông là điều kiện cho phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá, tiết kiệm chỉ phí xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị.
Mở rộng địa giới hành chính đô thị hiện có là một biểu hiện của quá trình đô thị hoá là xu thế tất yếu của sự phát triển. Những quận mới, phường mới được hình thành trên cơ sở hình thành hệ thống công sở, trung tâm thương mại, những chung cư, và hệ thống dịch vụ phục vụ đời sống. Vai trò trung tâm của đô thị đối với vùng và khu vực thể hiện ngày càng mạnh: lực hút và sức lan toả của các trung tâm đối với các vùng và khu vực xung quanh ngày càng xa và tiếp theo sự thu hút dân sé, lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ. Lao động và dân số sẽ tạo sức ép lên cơ sở hạ tầng và quy mô hành chính của đô thị.
Khi cơ sở hạ tầng được cải thiện, quy mô nội thành mở rộng thì kinh tế đô thị sẽ phát triển thêm một bước. Quá trình đó sẽ diễn ra liên tục với cường độ ngày cảng cao hơn. Trong thời đại ngày nay quá trình hình thành các điểm, cụm công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng đã gắn kết với nhau nhờ có sự đầu tư đồng bộ tạo ra một đô thị hiện đại. Quy mô dân số và kinh tế của đô thị được quy hoạch và định hướng trong dài hạn.
Đô thị hoá mang tính xã hội và tính lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành hệ thống các đô thi. Đô thị hoá làm biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ. Đô thị hoá làm thay đổi cách nghĩ, cách làm và nền nếp sinh hoạt của người dân. Đô thị hoá chịu ảnh hưởng của chế độ chính trị và kinh tế - xã hội, mỗi chế độ xã hội đều có mục tiêu chiến lược riêng.
Các chính sách đô thi hoá và phát triển đô thị là sự cụ thé hoá chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Đô thị hoá là kết quả của sự biến đổi tổng hợp từ nhiều yếu tố và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Đô thị hoá trên thế giới bắt đầu từ cách mạng công nghiệp, là sự thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc. Đồng thời cách mạng công nghiệp đã tập trung hóa lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ.