Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm nhà thầu Luật đấu thầu (2013) quy định “Nhà thầu độc lập là người hoặc một doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ, sản xuất ra kết quả, hoặc sản xuất các sản phẩm cho một doanh nghiệp theo một thỏa thuận hoặc hợp đồng bằng văn bản hay ngụ ý. Nhà thầu độc lập không phải chịu sự kiểm soát hoặc chỉ đạo của khách hàng, trừ khi được nêu trong hợp đồng”.
Căn cứ quy định tại Luật đấu thầu năm (2013) và các văn bản có liên quan, nhà thầu được phân loại dựa trên các tiêu chí sau: - Dựa theo tiêu chí vai trò: Nhà thầu phân thành nhà thầu chính và nhà thầu phụ. + “Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh”. + “Nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính”.
- Phân theo quốc tịch: (1) nhà thầu trong nước và nhà thầu liên danh. + “Nhà thầu trong nước là tổ chức thành lập theo quốc tịch Việt Nam, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam”. + “Nhà thầu nước ngoài là các tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, cá nhân mang quốc tịch nước ngoài tham dự thầu tại Việt Nam”. - “Phân theo tư cách pháp nhân: (1) Nhà thầu độc lập và (2) nhà thầu liên danh” Tại khoản 12 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 nêu rõ: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để kí kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.” Điều đó cho thấy, “đấu thầu là quá trình chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình.
Trong đó, bên mua sẽ tổ chức đấu thầu để bên bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của bên mua là có được các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kĩ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp mua hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận 6 cao nhất có thể. Như vậy, bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như một sự cạnh tranh lành mạnh để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó”.
“Hoạt động đấu thầu phải diễn ra một cách công khai, minh bạch và đảm bảo các nguyên tắc bình đẳng và cạnh tranh. Trong đó, để đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh trong đấu thầu thì pháp luật bắt buộc các đối tượng là nhà thầu tham dự thầu, nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư tham dự thầu phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các đối tượng khác theo luật định”. Luật Đấu thầu (2013), quy định “Hợp đồng nhà thầu là hợp đồng được giao kết giữa chủ đầu tư/bên mời thầu với bên trúng thầu sau khi đã trúng thầu để thực hiện các công việc theo nội dung gói thầu”.2 Nhà ở riêng lẻ Nhà ở riêng lẻ là công trình được xây dựng trong khuôn viên đất ở, thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân (theo Điều 3 Luật Xây dựng, 2003). Phân biệt với nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân (Điều 70 Luật nhà ở, 2005).
Nhà ở bao gồm: Nhà liên kế (nhà phố) và Biệt thự. Hình minh họa phân biệt nhà ở và chung cư Dựa trên phân loại của tổng điều tra dân cư và nhà ở Việt Nam (2009) thì các dạng nhà ở tại Việt Nam được phân thành ba loại cơ bản sau: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố và nhà tạm. Tuy nhiên, các phân loại này khó có thể hiểu được một cách chính xác các loại nhà ở đa dạng tại các khu vực đô thị Việt Nam (Seo và Kwon, 2017). 7 Dựa theo phân loại của chương trình định cư con người Liên hợp quốc (United Nations Human Settlements programme, viết tắt là UN-Habitat) thì nhà ở khu vực đô thị Việt Nam được phân thành năm loại gồm: nhà cửa hàng (shop house), nhà hẻm (alley house), biệt thự (villa), nhà tạm (precarious squatter house), và căn hộ (apartment).
Trong đó, nhà cửa hàng và nhà hẻm là hai loại nhà tương tự nhau, chỉ khác biệt là tầng trệt của nhà cửa hàng được dùng cho mục đích thương mại như mở cửa hàng kinh doanh hoặc cho thuê kinh doanh, và do đó nhà cửa hàng thường có vị trí mặt tiền đường và ngược lại. Dựa theo Ngân hàng Thế Giới (World Bank – WB) thì nhà ở khu vực đô thị của Việt Nam cũng được phân chia thành năm loại gồm: nhà phố cũ (old town house), nhà phố mới (new town house), biệt thự, nhà tạm và căn hộ chung cư. Trong đó, nhà phố cũ và nhà phố mới theo phân loại của WB cũng chính là phân loại nhà cửa hàng và nhà hẻm như phân loại của UN-Habittat. Hai loại nhà này có cấu trúc gần tương tự nhau là đều hẹp – dài, bình quân 3-4 tầng và đặc biệt là lấp đầy gần như 100% diện tích khu đất, do đó Seo và Kwon (2018) gộp chung hai loại nhà này thành một loại duy nhất, gọi là nhà ống (row house hay tube house) 2.3 Hình thức gói thầu Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay hợp đồng giao thầu xây dựng thường tồn tại ở 3 hình thức chủ yếu sau: - Hợp đồng khoán trọn gói.
Hợp đồng trọn gói là hợp đồng thực hiện theo giá khoán gọn được áp dụng cho những gói thầu được xác định rõ về số lượng, chất lượng, thời gian. Giá trúng thầu là giá thanh toán hợp đồng (Nghị định 43/NĐ-CP, 1996). Hay nói cách khác, hợp đồng trọn gói là hình thức giá thầu bao gồm tất cả vật liệu, nghĩa là Nhà thầu xây dựng mua tất cả vật liệu cần thiết và xây hoàn tất ngôi nhà, Nhà thầu thi công chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình thi công đến khi bàn giao công trình cho Chủ đầu tư. - Hợp đồng khoán xây dựng phần thô.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về vật liệu hoàn thiện. Tùy theo thỏa thuận giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu về khái niệm phần thô mà Nhà thầu sẽ cung cấp nhân công, thiết bị và vật liệu cần thiết để thi công phần xây dựng thô, bao gồm cả nhân công lắp đặt phần hoàn thiện (http://xaydung360.vn) - Hợp đồng khoán nhân công: Nhà thầu chỉ đảm nhận phần nhân công và thiết bị thi công cần thiết, Chủ đầu tư sẽ cung cấp và quản lý toàn bộ vật tư (http://xaydung360.4 Các đổi tượng được đề cập trong nghiên cứu Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án (Đỉều 3 Luật Xây dựng, 2003). Trường hợp Chủ đầu tư là người được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu thì phải có khả năng quyết định về vấn đề tài chính (giá hợp đồng, thanh toán, phát sinh, .) Nhà thầu xây dựng là người hoặc đơn vị nhận thiết kế hoặc thi công một công trình, một loại dịch vụ nào đó (Từ điển Lạc Việt v.2 Các lý thuyết về lựa chọn, quyết định mua 2.1 Lý thuyết về sự lựa chọn Khái niệm về sự lựa chọn, đặc biệt là sự lựa chọn của người tiêu dùng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước định nghĩa. Nổi bật trong đó có thể kể đến các lý thuyết về việc lựa chọn được phát triển bởi Maslow (1943, 1954, 1970), Wulff (1965), Wahba (1976), Tay và Diener (2011).
Theo đó sự lựa chọn là những hành động trí óc và vật chất của khách hàng để xem xét và đánh giá các phương án lựa chọn nhằm đi đến việc thỏa mãn nhu cầu của họ. Một số khái niệm khác có thể kể đến như: Safiek và cộng sự. (2007) mô tả sự lựa chọn là việc ra việc về mua hàng, thanh toán và sử dụng sản phẩm, diễn ra dưới dạng hoạt động trí tuệ và vật chất của người tiêu dùng. Hoạt động trí tuệ trong định nghĩa này xác định sự phù hợp của loại sản phẩm hoặc dịch vụ, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được lấy từ dữ liệu quảng cáo và trải nghiệm thực tế được đánh giá.
Hoạt động vật chất của khách hàng liên quan đến việc ghé thăm cửa hàng, đọc hướng dẫn và ghi chú dành chó khách hàng, nói chuyện với nhân viên bán hàng và đặt hàng. Apena và cộng sự (2011), sự lựa chọn là sản phẩm của một quá trình phức tạp của cảm xúc và trải nghiệm, hành động và môi trường chi phối của các sự việc, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống của một cá nhân nào đó. Định nghĩa này cho thấy sự lựa chọn của khách hàng là sự pha trộn giữa suy nghĩ, cảm xúc, hành động và môi trường xung quanh họ. Để hiểu được sự pha trộn này, nhà sản xuất phải hiểu sản phẩm hoặc nhãn hiệu nào mà người tiêu dùng cần mua, sử dụng và hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng đến lựa chọn, mua hàng của người tiêu dùng.
Tất cả các định nghĩa trên đều cung cấp những cái nhìn khác nhau về sự lựa chọn của khách hàng, về cơ bản các định nghĩa thống nhất sự lựa chọn là tiến trình mà khách hàng ra quyết định lựa chọn sở hữu, sử dụng một sản phẩm dịch vụ cụ thể, bao gồm: 9 điều tra, đánh giá, mua, sử dụng hoặc chi tiêu hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của họ. Sự lựa chọn chọn cũng có thể được định nghĩa là cách người tiêu dùng đưa ra quyết định lựa chọn về việc sử dụng tài sản của họ (tiền bạc, thời gian, công sức .) liên quan đến mua sắm và sản phẩm, hàng hóa dịch vụ cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người mua Kotler (2005), hành vi của người mua ảnh hưởng rất nhiều bởi các nhân tố văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý và các nhân tố marketing.