CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vấn đề giảm gánh nặng về CPTTT để hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh nói chung, tài chính nói riêng của các DNNVV ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã được một số nhà khoa học, các viện, các trung tâm nghiên cứu kinh tế quan tâm nghiên cứu, đã có một số công trình được công bố như sau: 1. Các nghiên cứu nước ngoài CPTTT được cho là một “chi phí ẩn” của việc đánh thuế cho đến khi Haig (1935) là người đầu tiên cố gắng đo lường CPTTT. Nhưng người đầu tiên được coi là cha đẻ của các nghiên cứu CPTTT hiện đại là Cedric Sandford, ông đã thực hiện các nghiên cứu chi tiết đầu tiên của chi phí tuân thủ thuế GTGT (Sandford và cộng sự, 1981), đồng thời cũng có nhiều tác phẩm khác về đề tài này (Sandford, 1973; Sandford, 1994).
Năm 1973, Sandford đã nêu lên rằng CPTTT là “chi phí ẩn của thuế”. Kể từ đó CPTTT trở thành chủ đề được nghiên cứu mạnh mẽ. Đã có hơn 100 nghiên cứu về CPTTT hoặc chi phí hành chính được công bố từ nghiên cứu hiện đại đầu tiên của Haig (1935) tại Hoa Kỳ và hơn 60 nghiên cứu đã được thực hiện từ năm 1980. Nghiên cứu hiện nay đã được thực hiện ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và các nước đang phát triển; đã sử dụng hầu hết các phương pháp nghiên cứu có sẵn và đã bao trùm toàn bộ các loại thuế và các vấn đề về thuế.
Theo Evans (2003), mặc dù mục đích nghiên cứu khác nhau, thành phần của CPTTT được phân tích khác nhau, một hay nhiều sắc thuế khác nhau, các tác giả khác nhau. nhưng tựu trung lại có cùng các kết luận: (1) CPTTT có ý nghĩa thống kê, có tính lũy thoái, đặc biệt là gánh nặng đối với các DNNVV; (2) CPTTT có tính hồi quy (theo từng sắc thuế khác nhau, từng quy mô DN khác nhau .); (3) CPTTT không phải lúc nào cũng giảm. Theo Chris Evans (2006), hàng loạt các nghiên cứu được tiến hành trên thế giới: Ở Mỹ, Canada (Vaillancourt, 1989; Blumenthal và Slemrod, 1992); Anh (Sandford, Godwin và Hardwick, 1989; Collard, Green, Godwin và Maskell, c 6 1998; Hasseldine và Hansford, 2002); Hà Lan (Allers, 1994); Tây Ban Nha (Diaz và Delgado, 1995); Úc (Pope, Fayle và Duncanson, 1990; Pope, Fayle và Chen, 1991; Pope, 1992; Pope, Fayle và Chen, 1993a, 1993b, 1994; Wallschutzky và Gibson, 1993; Evans, Ritchie, Tran-Nam và Walpope, 1996, 1997; Rametse và Pope, 2002; Tran-Nam và Glover, 2002); New Zealand (Sandford và Hasseldine, 1992; Prebble, 1995); Singapore (Ariff, Loh và Talib, 1995; Ariff, Ismail và Loh, 1997); Malaysia (Loh, Ismail, Shamsher và Ali, 1997) và Hong Kong (Chan, Cheung, Ariff và Loh, 1999) Nội dung các vấn đề nghiên cứu tập trung đến: - CPTTT liên quan đến các sắc thuế khác nhau như: thuế TNCN, thuế TNDN, thuế GTGT, thuế xăng dầu, thuế cầu đường … Các đối tượng được khảo sát chủ yếu là các DN. Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu quan tâm đến NNT là các cá nhân, nhân viên, người về hưu … - Các nghiên cứu chia mục tiêu hướng tới các DN nhỏ hoặc các DN lớn, nhưng không phân chia các ngành nghề khác nhau.
- Chủ yếu các nghiên cứu tìm hiểu các chi phí phát sinh từ DN. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu có xem xét đến quan điểm của các chuyên gia, thậm chí chi phí thuê chuyên gia là một trong những chi phí quan trọng của CPTTT. - Gần đây, có một số nghiên cứu so sánh CPTTT ở các quốc gia. Một vài nghiên cứu quốc gia có phần so sánh CPTTT giữa quốc gia đó với quốc gia khác.
Có thể kể ra một số nghiên cứu như: Bannock và Albach (1989) so sánh chi phí tuân thủ thuế GTGT của Đức và Anh; Cordova-Novion và De Young (2001) tiến hành cuộc khảo sát ở 11 quốc gia cho tổ chức OECD. Mặc dù vậy, Sandford (1995) xác định một số lý do việc so sánh này làm lạc hướng hơn là sáng tỏ vấn đề. Trong một nghiên cứu gần đây của Eichfelder và Kegels (2012), các tác giả này cho rằng CPTTT không chỉ bị ảnh hưởng bởi chính pháp luật về thuế, mà còn chịu ảnh hưởng thông qua việc quản lý thuế của CQT. Theo tính toán của họ, quản lý thuế không thân thiện làm tăng CPTTT trung bình của DN khoảng 25%.
Các nghiên cứu trong nước Mặc dù CPTTT bao gồm chi phí bằng tiền và hao phí về thời gian của NNT, nhưng những nghiên cứu về CPTTT tại Việt Nam chỉ dừng lại ở hao phí về thời gian, có rất ít các công bố đầy đủ bao hàm cả chi phí bằng tiền. Bên cạnh đó, các công bố về hao phí thời gian cũng có kết quả rất khác nhau. Tổ chức ngân hàng thế giới (2008) đã tập hợp các số liệu nghiên cứu được xem như hao phí về thời gian dùng cho mục đích thuế tại Việt Nam như sau: Báo cáo đánh giá môi trường đầu tư được tiến hành bởi Ngân hàng thế giới vào năm 2005, khảo sát được thực hiện ở một số công ty trong ngành sản xuất ở 25 tỉnh thành tại Việt Nam. Trọng tâm của cuộc khảo sát không phải để đánh giá gánh nặng về thuế, mà nhằm đánh giá môi trường đầu tư ở phạm vi rộng hơn.
Tuy nhiên, một trong số các câu hỏi có đề cập đến thời gian giải quyết việc kiểm tra thuế, bao gồm chuẩn bị các văn bản và tài liệu liên quan. Theo kết quả này, trung bình các công ty được kiểm tra thuế 2,5 lần/năm, mỗi lần kéo dài 9,5 giờ. Từ con số này, có thể suy luận rằng các công ty cần dành khoảng 24 giờ làm việc để xử lý các công việc liên quan đến thuế. Mặc dù vậy, kiểm tra thuế chỉ là một phần của chi phí tuân thủ tổng thể.
Do đó, báo cáo chỉ đưa ra một ước lượng thấp hơn so với mức chi phí thực tế tuân thủ các quy định về thuế. Báo cáo kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng thế giới: mục tiêu là định lượng các khía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh tổng thể của các quốc gia. Một trong số các khía cạnh này là CPTTT. Về khía cạnh này, Báo cáo kinh doanh dựa chủ yếu vào đánh giá chuyên gia cho một DN giả định với 60 nhân viên và doanh thu tương đương với 0,7 triệu USD/năm (đối với trường hợp của Việt Nam).
Từ 2005 đến 2007, thời gian cần thiết cho DN này là 1. Báo cáo này đề cập đến thuế TNDN, GTGT, TNCN và các khoản đóng BHXH, BHYT, BHTN. Nó bao gồm thời gian chuẩn bị cho hồ sơ khai thuế và thời gian cần thiết cho công việc làm sổ sách kế toán. Tuy nhiên, cần phải nói rằng công việc sổ sách kế toán là việc làm bắt buộc cho dù có phải nộp thuế hay không.
Đồng thời, chỉ có một số DN nộp thuế TNCN tại Việt Nam, và ước tính giả định rằng khai thuế qua c 8 mạng không được sử dụng. Do đó, báo cáo kinh doanh có thể ước lượng quá mức chi phí tuân thủ thực tế. Báo cáo về “Chi phí tuân thủ thủ tục thuế ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: đưa ra đánh giá năm 2007 sử dụng mô hình chi phí chuẩn. Mô hình này dựa vào 360 phỏng vấn với các DNNVV.
Đối với Việt Nam, thời gian trung bình để tuân thủ với các quy định về thuế được ước tính là 1. Phần lớn chi phí (1.733 giờ) có liên quan đến thuế GTGT, trong đó, chỉ tính riêng thời gian lập hồ sơ đã mất 1.680 giờ, điều mà dường như các đơn vị được phỏng vấn cho là điều gây nhiều khó chịu. DN cũng phải mất 728 giờ/năm để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNDN. Tuy nhiên, đánh giá này không tách biệt giữa chi phí một lần để có được mã số thuế với các chi phí thường xuyên liên quan đến hoạt động đóng thuế.
Ngoài ra, với phương pháp luận sử dụng trong đánh giá, khó có thể xác định hoạt động là một phần trong hoạt động kinh doanh với các hoạt động cụ thể liên quan đến chi trả thuế và “các chi phí gây khó chịu” mang nhiều yếu tố chủ quan hơn. Một phân tích gần hơn cho thấy ước lượng về thời gian thanh tra là cao hơn 4 lần so với ước lượng trong đánh giá môi trường đầu tư. Chi phí xử lý các loại thuế hầu hết đều cao hơn 2 lần so với mức của báo cáo kinh doanh, và chi phí xử lý thuế GTGT là cao hơn khoảng 30 lần. Do đó, nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương dường như đã ước lượng mức CPTTT cao hơn rất nhiều lần, chưa thực sự chính xác.
Ấn phẩm báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới liên tục xếp Việt Nam là một trong 10 quốc gia hao phí thời gian nhiều nhất ở quá trình khai nộp thuế. Do đó, Việt Nam bị xếp hạng khá thấp trong Báo cáo môi trường kinh doanh qua chỉ tiêu “nộp thuế”. Thống kê xếp hạng về thuế của Việt Nam Chỉ số 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Xếp hạng về thuế 147/183 129/183 151/183 145/185 149/189 173/189 Số lần nộp thuế 32 32 32 32 32 32 c 9 Thời gian 1.050 941 941 872 872 872 Nguồn: tác giả tổng hợp từ trang web http://www.org Năm 2010, tính toán của World Bank cho thấy mỗi DN Việt Nam tốn hơn 1.000 giờ chỉ riêng cho việc đi nộp thuế thì năm 2015 con số trên giảm còn hơn 870 giờ. Kết quả trên đã chỉ ra rằng, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính thuế mang lại hiệu quả tích cực để tạo thuận lợi hơn cho môi trường kinh doanh.
So sánh chi phí tuân thủ thuế của Việt Nam với các nước (năm 2015) Chỉ số Việt Nam Đông Á – Thái Các nước Bình quân chung Bình Dương OECD toàn thế giới Số lần nộp thuế 32 25 13 28,5 Thời gian 872 215 186 277 Tuy nhiên, khi so sánh với các nước trên thế giới thì kết quả trên chưa thật sự thuyết phục. Đối với các nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, mỗi DN chỉ mất trung bình hơn 200 giờ đồng hồ cho việc đóng thuế mỗi năm, và ở các nước OECD thì con số này là 186 giờ. Kết quả trên đã chỉ ra, mặc dù đã rất nỗ lực, nhưng do những cải cách chưa thật sự có tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh, trong khi các nước trên thế giới đã thực hiện nhiều chương trình những cải cách tích cực trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo thuận lợi hơn cho môi trường kinh doanh đã được ghi nhận.