CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TÓ ẢNH HƯỚNG TỚI CÁU TRÚC VÓN CỦA DOANH NGHIỆP. CẤU TRÚC VON CUA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp a. Khéi niệm và thành phần của cầu trúc vẫn Bắt kì một doanh nghiệp nào muốn bắt đầu tạo lập hoặc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần sử dụng vốn.
Vốn của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính bên trong của doanh nghiệp bao gồm vốn góp từ chủ sở hữu, từ nguồn lợi nhuận hoạt động để lại của doanh nghiệp và các nguồn lực bên ngoài khác từ các nhà đầu tư bên ngoài như nhà nước, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội, các quy, các nhà đầu tư cá nhân Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương. pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thé tai trợ cho việc mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh. Để đảm bảo sử dụng vốn trong đầu tư mua sắm phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả cao, nhà quản lý doanh nghiệp phải đưa ra hai quyết định quan trọng là quyết định đầu tư và quyết định tài trợ nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chỉ phí sử dụng vốn. Các tài liệu nghiên cứu về vốn thường được các tác giả đề cập đến thuật ngữ cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn.
Có nhiều quan điểm đưa ra về cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn dựa trên những nghiên cứu của các nhà kinh tế học. Một số quan điểm có sự tương đồng nhưng một số quan điểm lại không đồng. nhất với nhau.Myers: “Cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình”.Albouy, một trong những giáo sư hàng đầu của Pháp: “Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ kẻ cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng. cân đối kế toán”.
Dubois, một giáo sư chuyên nghiên cứu về tải chính của Đại hoc Pierre Mendes France: “Cau tric tai chính là quan hệ giữa các nguồn vốn được sử dụng bởi doanh nghiệp, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ”. Theo Bertoneche và Teuile: “Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung và dài hạn và vốn chủ sở hữu”. Khái niệm này được sử dụng phổ biến bởi các tác giả người Mỹ và Pháp. Như vậy từ các quan điểm trên, ta có thể hiểu cấu trúc vốn của doanh nghiệp là mỗi tương quan tỷ lệ giữa nợ trung, dài hạn và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Về lý thuyết, khi xem xét cấu trúc vốn chỉ đề cập đến vốn dài hạn bao gồm nợ đài hạn và vốn chủ sở hữu. Phần ng ngắn hạn không được đề cập đến trong nghiên cứu cấu trúc vốn vì đây là khoản nợ luân chuyển liên tục, mang tính ngắn hạn tạm thời, không ảnh hưởng nhiều đến sự chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp. Các khoản nợ ngắn hạn hầu như chỉ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu bỗ sung vốn lưu động của doanh nghiệp, không bị tác động nhiều bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa chỉ phí vốn ngắn hạn thấp hơn nhiều so với vốn dài hạn vì trong nợ ngắn hạn có những khoản mục như phải trả va chỉ phí phải trả là những khoản mà hầu như không phát sinh chỉ phí.
Do vậy khi thiết lập cấu trúc vốn ta chỉ nghiên cứu nợ dài hạn của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn không xem xét đến nợ ngắn hạn nên nó có những đặc trưng. co ban sau: 13 * Được cấu thành bởi nguồn vốn dài hạn nên có tính chất ôn định và thường xuyên. *® Đây là nguồn vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các tài sản dài hạn của công ty.
Việc lựa chọn một cấu trúc vốn hợp lý ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. *® Có rất nhiều các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn, do đó không có một cấu trúc vốn tối ưu cho mọi công ty, trong mọi thời kỳ sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác cấu trúc vốn mang tính thời điểm. Đặc điểm các nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kế toán và được giải thích cụ thể, chỉ tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính, bao gồm 2 nhóm: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu ~ Nợ phải trả: là nguồn vốn hình thành do vay mượn bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn mà đơn vị có nghĩa vụ phải thanh toán như các khoản vay của các tổ chức tín dụng, trái phiếu, các khoản mua chịu hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp, các khoản nợ tích lũy (các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, lương và các khoản thanh toán cho cán bộ công nhân viên), s#ˆ Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Trong cơ chế cạnh tranh hiện nay, khi mà tắt cả các loại hình doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả kinh doanh ở mức cao nhất thì các doanh nghiệp lại càng phải nỗ lực hơn đề đáp ứng những yêu cầu mới, sản phẩm cần tốt hơn, đa dạng hơn, thiết bị cần hiện đại hơn, máy móc, công nghệ cần tiên tiến hơn và tất yếu vốn phải cần nhiều hơn. Như vậy, suy cho cùng thì vốn vẫn là điều kiện tiên quyết, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp lại không đủ vốn để đáp ứng những yêu cầu mới đó, nên tín dụng ngân hàng là kênh huy động vốn khá phổ biến. Vốn vay ngân hàng được phân loại thành: 14 Y Vay ngin hạn: các khoản vay có thời hạn thanh toán dưới 1 năm. Các khoản vay này thường có lãi suất vay thấp hơn các khoản tín dụng dài hạn, doanh ngl sử dụng với mục đích thường được bổ sung vốn lưu động. Y Vay trung va dai han: cde khoản vay có thời hạn thanh toán trên 1 năm, lãi suất vay thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn.
Doanh nghiệp thường vay trung và dài hạn với mục đích đầu tư xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản cố định. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có ưu điểm lớn là rất linh hoạt, doanh nghiệp có thể có nguồn tài trợ lớn từ bên ngoài, nhưng vẫn có những hạn chế về điều kiện cho vay, thủ tục giải ngân và kiểm soát của ngân hàng và doanh nghiệp phải trả lãi vay cho các khoản vay này. s* Trái phiếu “Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp phải trả cho người sở hữu trái phiếu một khoản tiền gốc và lãi khi trái phiếu đến hạn So với việc đi vay ngân hàng, một số ưu điểm của phát hành trái phiếu có thể kể đến như doanh nghiệp sẽ được giải ngân ngay và toàn bộ thay vì việc giải ngân có lộ trình từng đợt. Như vậy, doanh nghiệp huy động được tiền từ trái phiếu sẽ chủ động nguồn vốn hơn trong khi các doanh nghiệp đi vay ngân hàng khi muốn giải ngân phải giải trình cụ thể, chờ đợi ngân hàng phê duyệt và trong không it trường hợp, khi tín dụng được giải ngân thì cơ hội kinh doanh đã đi qua.
Với một số trường hợp, đặc biệt là khi lãi suất thấp, doanh nghiệp có thẻ phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với lãi suất cố định để tận dụng nguồn vốn với chỉ phí thấp. Trong khi đối với hình thức đi vay ngân hàng thông thường, lãi suất thường là thả nỗi và sẽ được rà soát thay đổi định ky. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu vẫn còn một số hạn chế như lãi suất có thể cao hơn so với đi vay ngân hàng do rủi ro cao hơn, thời gian đáo hạn và 15 lãi phải trả ngay trong thời gian mà doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả hay thậm chí là phá sản + Nguồn tín dụng của các nhà cung cấp hay tín dụng thương mại: Đây là một hình thức tai trợ quan trọng trong nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp; nó được hình thành khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ từ nhà cung cấp song chưa phải trả tiền ngay. Vì vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng các tài sản mua được từ nhà cung cấp như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp.
* Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng nhà cung cấp: + Quy mô nguồn vốn tín dụng nhà cung cấp chỉ có giới hạn nhất định vì nó phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ được mua chịu của nhà cung cấp, + Doanh nghiệp phải hoàn trả sau một thời hạn nhất định và thường là rất ngắn. + Nguồn tài trợ này không thể hiện rõ nét mức chỉ phí cho việc sử dụng * Ưu điểm: Việc sử dụng tín dụng thương mại có ưu điểm là đơn giản, tiên lợi trong kinh doanh. Tài trợ một phần nhu cầu vốn của doanh nghiệp. * Nhược điểm: Chỉ phí sử dụng tín dụng thương mại thường cao hơn so với sử dụng tín dụng thông thường của ngân hàng thương mại, mặt khác nó cũng làm tăng hệ số nợ, tăng nguy cơ rủi ro vẻ thanh toán đối với doanh nghiệp.
Đặc điểm của loại nguồn vốn tín dụng của các nhà cung cấp đặt ra cho doanh nghiệp một yêu cầu trong quản lý đó là thường xuyên theo dõi chỉ tiết các khoản nợ nhà cung cấp để chuẩn bị nguồn tiền đáp ứng nhu cầu thanh toán. Tránh để mắt uy tín do không trả nợ đúng hạn. ~ Vốn chủ sở hữu: khác với nợ phải trả, vốn chủ sở hữu được hình thành 16 từ sự đóng góp của các chủ sở hữu hoặc được tích lũy trong quá trình kinh doanh. Phần lớn các khoản mục trong vốn chủ sở hữu có đặc điểm là không phải hoàn trả và tính én định cao.
'Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.