CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lí luận về cấu trúc vốn trong doanh nghiệp 1. Lý thuyết về vốn Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính.
Công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo. [23] Vốn là một điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp có thể ra đời và hoạt động. Mỗi một loại nguồn vốn đều có chi phí và sử dụng nhất định. Do vậy, để có thể huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu từng nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu chi phí của từng nguồn vốn cụ thể để từ đó xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý phù hợp với từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn của doanh nghiệp.
Lý thuyết về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. [13] Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tại cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tổng giá trị doanh nghiệp là lớn nhất.
[1] SVTH: Lê Thị Minh Tuyền 5 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Hoàng Thị Kim Thoa Cấu trúc vốn là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và định nghĩa. Em xin đề xuất một số quan điểm về cấu trúc vốn mà các đề tài trước đó đã nghiên cứu về cấu trúc vốn nhận định: “Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp” [4, Trang 3] “Cấu trúc vốn (Capital structure) là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp” [7, Trang 10] “Cấu trúc vốn (Capital Structure) là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và duy trì hoạt động kinh doanh” [14, Trang 1] Từ lý thuyết cấu trúc vốn đã được tìm hiểu, từ việc kế thừa và phát triển về các quan điểm về cấu trúc vốn của các tác giả đã nghiên cứu trên, em xin đưa ra quan điểm của mình về cấu trúc vốn để có thể xuyên suốt quá trình nghiên cứu được thống nhất: Cấu trúc vốn được tạo nên bởi mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Như chúng ta đã biết cấu trúc vốn xuất phát từ bảng cân đối kế toán, bất cứ sự tăng lên của tổng tài sản phải được tài trợ bằng việc tăng lên một hay một số yếu tố cấu thành vốn (nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu).
Do đó mà từ bảng cân đối kế toán nhà đầu tư có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình trạng phát triển của doanh nghiệp qua cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nhân tố cấu thành cấu trúc vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiêp về cơ bản gồm 2 bộ phận lớn: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Tính chất của hai nguồn vốn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. SVTH: Lê Thị Minh Tuyền 6 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.
Hoàng Thị Kim Thoa a. Nợ phải trả Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà phải bằng nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn vay sử dụng đáng kể. Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ nguồn lực của mình. Trong cấu trúc vốn người ta thường xét đến nguồn vốn vay nợ vì nó ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp.
Nguồn vốn vay nợ là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời phải trả tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Nợ phải trả gồm các khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn, phát hành trái phiếu, các khoản thanh toán cho cán bộ công nhân viên, phải trả nộp ngân sách nhà nước, phải trả nhà cung cấp và một số khoản phải trả khác. Việc doanh nghiệp sử dụng loại nguồn vốn này nhiều hay ít thì còn tùy thuộc vào đặc điểm của lọai hình doanh nghiệp và doanh nghiệp đang ở trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nào. Vay ngắn hạn là hình thức vay mà thời hạn của khoản vay nhỏ hơn 12 tháng, lãi suất của nguồn vốn vay ngắn hạn thường thấp hơn tín dụng dài hạn và thường được bổ sung tài sản ngắn hạn.Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc vay và trả nợ luôn diễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kì sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thường cho vay khi khách hàng phát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư, nguyên vật liệu, hoặc trang trải các chi phí sản xuất, hoặc mua hàng hoá (đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại). Khi hàng hoá được tiêu thụ, khách hàng có doanh thu, cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ.
Xuất phát từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời hạn cho vay trên cơ sở chu kỳ sản xuất – kinh doanh của người vay. Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong cho vay ngắn hạn nhanh. Vay dài hạn là những khoản vay có thời hạn vay trên 2 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm, có những khoản vay cá biệt lên tới 40 năm, lãi suất vay dài SVTH: Lê Thị Minh Tuyền 7 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Hoàng Thị Kim Thoa hạn thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn, thường được dùng để bổ sung cho vốn xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản cố định.
Nguồn này có thể đi vay từ các định chế tài chính (Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính,…) hay phát hành trái phiếu trên thị trường vốn. Việc sử dụng nguồn vốn vay có một số ưu và nhược điểm sau Ưu điểm: Nguồn huy động vốn là từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng… nên phải trả lãi vay theo một mức cố định giảm áp lực trả nợ cho nhà quản trị do đó chi phí sử dụng vốn thấp hơn vốn chủ sở hữu. Thuế thu nhập doanh nghiệp là chỉ tiêu sau chi phí lãi vay, nên nguồn vốn vay có ảnh hưởng và quyết định đến sự điều chỉnh mức thuế phải nộp. Đây được xem là lá chắn thuế của doanh nghiệp, bên cạnh đó chi phí sử dụng nợ được khấu trừ thuế còn chi phí sử vốn chủ sỡ hữu thì không.
Huy động vốn chủ yếu từ nguồn vốn vay thì chỉ trả lãi cố định chứ không bị chia sẻ quyền lực như việc góp vốn chủ sở hữu. Điều này giúp cho việc quản trị doanh nghiệp sẽ thống nhất. Nhược điểm: Khi doanh nghiệp sử dụng nợ quá cao, công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh, mất khả năng tự chủ về tài chính, phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài làm mất đi sự tin tưởng từ các nhà đầu tư và nhiều rủi ro xuất hiện. Các khoản trả lãi phụ thuộc vào ngân hàng nên khi có sự biến động của nền kinh tế vĩ mô thì khoản trả cũng sẽ biến động, không mang tính ổn định.
Và dù có lỗ hay lãi thì doanh nghiệp cũng phải trả một mức cố định lãi vay. Doanh nghiệp cần phải có tài sản thế chấp hay nhờ bảo lãnh khi vay nợ, và sẽ không có toàn quyền trong việc sử dụng chúng. Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ khi đáo hạn ngoại trừ nguồn huy động từ tín dụng ưu đãi. SVTH: Lê Thị Minh Tuyền 8 of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.
Hoàng Thị Kim Thoa b. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu đó là: Số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối), các quỹ (quỹ đầu tư và phát triển, quỹ xây dựng cơ bản…) và một số nguồn khác. Vốn chủ sở hữu được phản ánh trong bảng cân đối kế toán, gồm: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá lại tài sản.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác định theo công thức: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán đối với người góp vốn với tư cách là chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của người chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản ở doanh nghiệp. Vì vậy, xét trên khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh Việc sử dụng vốn chủ sở hữu có một số ưu và nhược điểm sau Ưu điểm: Khi tăng vốn chủ sở hữu làm tăng tính tự chủ của doanh nghiệp, đảm bảo uy tín và độ tin cậy đối với các nhà đầu tư.